Biên giới Việt Nam- Campuchia

Dây là biên giới Việt Nam-Campuchia ở Đồng Tháp

Nguyễn văn Tiến

Đại học Luật Tp.HCM

Hình đi hội thảo ở Nha trang

Tôi đang ngồi giữa một bên là một bên là biển và một bên là trường đại học Nha trang

đồng tháp quê hương miền Tây

mời bạn cùng uống cà phê với chúng tôi

Hình kỷ niệm 15 năm thành lập ĐH Luật TPHCM

Mời bạn tham khảo một thoáng về gian hàng trưng bày của khoa Luật Dân sự

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2011

BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ 2011 SDBS

QUỐC HỘI

Luật số: 65/2011/QH12 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

LUẬT
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA
BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự số 24/2004/QH11.

Điều 1
Sửa đổi, bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự:
1. Điều 7 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 7. Trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền
Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Toà án, Viện kiểm sát và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ đó; trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Toà án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chứng cứ.”
2. Điều 16 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 16. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc tham gia tố tụng dân sự
Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, người phiên dịch, người giám định, thành viên Hội đồng định giá không được tiến hành hoặc tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.”
3. Điều 21 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 21. Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự
1. Viện kiểm sát nhân dân kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị, kháng nghị theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự kịp thời, đúng pháp luật.
2. Viện kiểm sát nhân dân tham gia các phiên họp sơ thẩm đối với các việc dân sự; các phiên toà sơ thẩm đối với những vụ án do Toà án tiến hành thu thập chứng cứ hoặc đối tượng tranh chấp là tài sản công, lợi ích công cộng, quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc có một bên đương sự là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần.
3. Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên toà, phiên họp phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm.
4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.”
4. Bổ sung Điều 23a như sau:
“Điều 23a. Bảo đảm quyền tranh luận trong tố tụng dân sự
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, Toà án bảo đảm để các bên đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thực hiện quyền tranh luận để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.”
5. Điều 25 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 25. Những tranh chấp về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
1. Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam.
2. Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản.
3. Tranh chấp về hợp đồng dân sự.
4. Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 29 của Bộ luật này.
5. Tranh chấp về thừa kế tài sản.
6. Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.
7. Tranh chấp về quyền sử dụng đất, về tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật về đất đai.
8. Tranh chấp liên quan đến hoạt động nghiệp vụ báo chí theo quy định của pháp luật.
9. Tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
10. Tranh chấp liên quan đến tài sản bị cưỡng chế để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
11. Tranh chấp về kết quả bán đấu giá tài sản, thanh toán phí tổn đăng ký mua tài sản bán đấu giá theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
12. Các tranh chấp khác về dân sự mà pháp luật có quy định.”
6. Điều 26 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 26. Những yêu cầu về dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
1. Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự.
2. Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó.
3. Yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích.
4. Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết.
5. Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
6. Yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
7. Yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.
8. Các yêu cầu khác về dân sự mà pháp luật có quy định.”
7. Điều 31 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 31. Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
1. Tranh chấp lao động cá nhân giữa người lao động với người sử dụng lao động mà Hội đồng hoà giải lao động cơ sở, hoà giải viên lao động của cơ quan quản lý nhà nước về lao động huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoà giải thành nhưng các bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, hoà giải không thành hoặc không hoà giải trong thời hạn do pháp luật quy định, trừ các tranh chấp sau đây không nhất thiết phải qua hoà giải tại cơ sở:
a) Về xử lý kỷ luật lao động theo hình thức sa thải hoặc về trường hợp bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động;
b) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động và người sử dụng lao động; về trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động;
c) Giữa người giúp việc gia đình với người sử dụng lao động;
d) Về bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về lao động;
đ) Về bồi thường thiệt hại giữa người lao động với doanh nghiệp, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.
2. Tranh chấp lao động tập thể về quyền giữa tập thể lao động với người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh giải quyết mà tập thể lao động hoặc người sử dụng lao động không đồng ý với quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh hoặc quá thời hạn mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh không giải quyết.
3. Các tranh chấp khác về lao động mà pháp luật có quy định.”
8. Bổ sung Điều 32a như sau:
“Điều 32a. Thẩm quyền của Toà án đối với quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức
1. Khi giải quyết vụ việc dân sự, Toà án có quyền hủy quyết định cá biệt rõ ràng trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Toà án có nhiệm vụ giải quyết. Trong trường hợp này, cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó có quyền và nghĩa vụ tham gia tố tụng.
2. Trường hợp vụ việc dân sự có liên quan đến quyết định cá biệt bị yêu cầu hủy quy định tại khoản 1 Điều này, thì quyết định cá biệt đó được Toà án xem xét trong cùng vụ việc dân sự. Thẩm quyền của cấp Toà án giải quyết vụ việc dân sự đó được xác định theo quy định tại Điều 29 và Điều 30 của Luật tố tụng hành chính.
3. Toà án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành Điều này.”
9. Điều 33 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 33. Thẩm quyền của Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
1. Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Toà án nhân dân cấp huyện) có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp sau đây:
a) Tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình quy định tại Điều 25 và Điều 27 của Bộ luật này;
b) Tranh chấp về kinh doanh, thương mại quy định tại khoản 1 Điều 29 của Bộ luật này;
c) Tranh chấp về lao động quy định tại khoản 1 Điều 31 của Bộ luật này.
2. Toà án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những yêu cầu sau đây:
a) Yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 7 Điều 26 của Bộ luật này;
b) Yêu cầu về hôn nhân và gia đình quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 28 của Bộ luật này.
3. Những tranh chấp, yêu cầu quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này mà có đương sự hoặc tài sản ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan đại diện nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài, cho Toà án nước ngoài không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân cấp huyện.”
10. Điều 35 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 35. Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ
1. Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
b) Các đương sự có quyền tự thoả thuận với nhau bằng văn bản yêu cầu Toà án nơi cư trú, làm việc của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cá nhân hoặc nơi có trụ sở của nguyên đơn, nếu nguyên đơn là cơ quan, tổ chức giải quyết những tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động quy định tại các điều 25, 27, 29 và 31 của Bộ luật này;
c) Toà án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết những tranh chấp về bất động sản.
2. Thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Toà án theo lãnh thổ được xác định như sau:
a) Toà án nơi người bị yêu cầu tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
b) Toà án nơi người bị yêu cầu thông báo tìm kiếm vắng mặt tại nơi cư trú, bị yêu cầu tuyên bố mất tích hoặc là đã chết có nơi cư trú cuối cùng có thẩm quyền giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó, yêu cầu tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết;
c) Toà án đã ra quyết định tuyên bố một người mất tích hoặc là đã chết có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố mất tích hoặc là đã chết;
d) Toà án nơi người phải thi hành bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành án là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành án có trụ sở, nếu người phải thi hành án là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định của Toà án nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài;
đ) Toà án nơi người gửi đơn cư trú, làm việc, nếu người gửi đơn là cá nhân hoặc nơi người gửi đơn có trụ sở, nếu người gửi đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết yêu cầu không công nhận bản án, quyết định dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Toà án nước ngoài không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam;
e) Toà án nơi người phải thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài cư trú, làm việc, nếu người phải thi hành là cá nhân hoặc nơi người phải thi hành có trụ sở, nếu người phải thi hành là cơ quan, tổ chức hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài;
g) Toà án nơi việc đăng ký kết hôn trái pháp luật được thực hiện có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;
h) Toà án nơi một trong các bên thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn;
i) Toà án nơi một trong các bên thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu công nhận sự thoả thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
k) Toà án nơi cha hoặc mẹ của con chưa thành niên cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;
l) Toà án nơi cha, mẹ nuôi hoặc con nuôi cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi;
m) Toà án nơi Phòng công chứng, Văn phòng công chứng đã thực hiện việc công chứng có trụ sở có thẩm quyền giải quyết yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu;
n) Toà án nơi Cơ quan thi hành án có thẩm quyền thi hành án có trụ sở hoặc nơi có tài sản liên quan đến việc thi hành án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản, phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật;
o) Thẩm quyền của Toà án theo lãnh thổ giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại.”
11. Điều 36 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 36. Thẩm quyền của Toà án theo sự lựa chọn của nguyên đơn, người yêu cầu
1. Nguyên đơn có quyền lựa chọn Toà án giải quyết tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động trong các trường hợp sau đây:
a) Nếu không biết nơi cư trú, làm việc, trụ sở của bị đơn thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở cuối cùng hoặc nơi bị đơn có tài sản giải quyết;
b) Nếu tranh chấp phát sinh từ hoạt động của chi nhánh tổ chức thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi tổ chức có trụ sở hoặc nơi tổ chức có chi nhánh giải quyết;
c) Nếu bị đơn không có nơi cư trú, làm việc, trụ sở ở Việt Nam hoặc vụ án về tranh chấp việc cấp dưỡng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
d) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi xảy ra việc gây thiệt hại giải quyết;
đ) Nếu tranh chấp về bồi thường thiệt hại, trợ cấp khi chấm dứt hợp đồng lao động, bảo hiểm xã hội, quyền và lợi ích liên quan đến việc làm, tiền lương, thu nhập và các điều kiện lao động khác đối với người lao động thì nguyên đơn là người lao động có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc giải quyết;
e) Nếu tranh chấp phát sinh từ việc sử dụng lao động của người cai thầu hoặc người có vai trò trung gian thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi người sử dụng lao động là chủ chính cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi người cai thầu, người có vai trò trung gian cư trú, làm việc giải quyết;
g) Nếu tranh chấp phát sinh từ quan hệ hợp đồng thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi hợp đồng được thực hiện giải quyết;
h) Nếu các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở ở nhiều nơi khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi một trong các bị đơn cư trú, làm việc, có trụ sở giải quyết;
i) Nếu tranh chấp bất động sản mà bất động sản có ở nhiều địa phương khác nhau thì nguyên đơn có thể yêu cầu Toà án nơi có một trong các bất động sản giải quyết.
2. Người yêu cầu có quyền lựa chọn Toà án giải quyết yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình trong các trường hợp sau đây:
a) Đối với các yêu cầu về dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6 và 7 Điều 26 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi mình cư trú, làm việc, có trụ sở hoặc nơi có tài sản của người bị yêu cầu giải quyết;
b) Đối với yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật này thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi cư trú của một trong các bên đăng ký kết hôn trái pháp luật giải quyết;
c) Đối với yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn thì người yêu cầu có thể yêu cầu Toà án nơi người con cư trú giải quyết.”
12. Điều 37 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 37. Chuyển vụ việc dân sự cho Toà án khác, giải quyết tranh chấp về thẩm quyền
1. Vụ việc dân sự đã được thụ lý mà không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án đã thụ lý thì Toà án đó ra quyết định chuyển hồ sơ vụ việc dân sự cho Toà án có thẩm quyền và xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan.
Đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị quyết định này trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị, Chánh án Toà án đã ra quyết định chuyển vụ việc dân sự phải giải quyết khiếu nại, kiến nghị. Quyết định của Chánh án Toà án là quyết định cuối cùng.
2. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện trong cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương do Chánh án Toà án nhân dân cấp tỉnh giải quyết.
3. Tranh chấp về thẩm quyền giữa các Toà án nhân dân cấp huyện thuộc các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khác nhau hoặc giữa các Toà án nhân dân cấp tỉnh do Chánh án Toà án nhân dân tối cao giải quyết.
4. Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.”
13. Điều 58 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 58. Quyền, nghĩa vụ của đương sự
1. Các đương sự có các quyền, nghĩa vụ ngang nhau khi tham gia tố tụng.
2. Khi tham gia tố tụng, đương sự có các quyền, nghĩa vụ sau đây:
a) Giữ nguyên, thay đổi, bổ sung hoặc rút yêu cầu theo quy định của Bộ luật này;
b) Cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình;
c) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Toà án;
d) Đề nghị Toà án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ án mà tự mình không thể thực hiện được hoặc đề nghị Toà án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá, thẩm định giá;
đ) Được biết và ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ do các đương sự khác xuất trình hoặc do Toà án thu thập;
e) Đề nghị Toà án quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;
g) Tự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án; tham gia hoà giải do Toà án tiến hành;
h) Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình;
i) Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình;
k) Tham gia phiên toà;
l) Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này;
m) Tranh luận tại phiên toà;
n) Đề nghị Toà án đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng;
o) Đưa ra câu hỏi với người khác về vấn đề liên quan đến vụ án khi được phép của Toà án hoặc đề xuất với Toà án những vấn đề cần hỏi với người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng;
p) Được cấp trích lục bản án, quyết định của Toà án;
q) Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án và chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án;
r) Tôn trọng Toà án, chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên toà;
s) Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Toà án theo quy định của Bộ luật này;
t) Đề nghị người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
u) Nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí, lệ phí và chi phí theo quy định của pháp luật;
v) Chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
x) Đề nghị Toà án tạm đình chỉ giải quyết vụ án theo quy định của Bộ luật này;
y) Các quyền, nghĩa vụ khác mà pháp luật có quy định.”
14. Điều 59 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 59. Quyền, nghĩa vụ của nguyên đơn
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 58 của Bộ luật này.
2. Rút một phần hoặc toàn bộ yêu cầu khởi kiện; thay đổi nội dung yêu cầu khởi kiện.”
15. Điều 60 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 60. Quyền, nghĩa vụ của bị đơn
1. Các quyền, nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 58 của Bộ luật này.
2. Được Toà án thông báo về việc bị khởi kiện.
3. Chấp nhận hoặc bác bỏ một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
4. Đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, nếu có liên quan đến yêu cầu của nguyên đơn hoặc đề nghị đối trừ với nghĩa vụ của nguyên đơn.”
16. Điều 63 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 63. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người được đương sự nhờ và được Toà án chấp nhận tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
2. Những người sau đây được Toà án chấp nhận làm người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
a) Luật sư tham gia tố tụng theo quy định của pháp luật về luật sư;
b) Trợ giúp viên pháp lý hoặc người tham gia trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật về trợ giúp pháp lý;
c) Công dân Việt Nam có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xoá án tích, không thuộc trường hợp đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục; không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Toà án, Kiểm sát và công chức, sĩ quan, hạ sĩ quan trong ngành Công an.
3. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhiều đương sự trong cùng một vụ án, nếu quyền và lợi ích hợp pháp của những người đó không đối lập nhau. Nhiều người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có thể cùng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của một đương sự trong vụ án.”
17. Điều 82 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 82. Nguồn chứng cứ
Chứng cứ được thu thập từ các nguồn sau đây:
1. Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được;
2. Các vật chứng;
3. Lời khai của đương sự;
4. Lời khai của người làm chứng;
5. Kết luận giám định;
6. Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ;
7. Tập quán;
8. Kết quả định giá tài sản, thẩm định giá tài sản;
9. Các nguồn khác mà pháp luật có quy định.”
18. Điều 85 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 85. Thu thập chứng cứ
1. Trong trường hợp xét thấy tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ việc dân sự chưa đủ cơ sở để giải quyết thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung tài liệu, chứng cứ.
2. Trong các trường hợp do Bộ luật này quy định, Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập tài liệu, chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Đối chất giữa các đương sự với nhau, giữa các đương sự với người làm chứng;
c) Trưng cầu giám định;
d) Quyết định định giá tài sản, yêu cầu thẩm định giá tài sản;
đ) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
e) Ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ;
g) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự.
3. Khi tiến hành các biện pháp quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này, Thẩm phán phải ra quyết định, trong đó nêu rõ lý do và yêu cầu của Toà án.
4. Viện kiểm sát có quyền yêu cầu đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp hồ sơ, tài liệu, vật chứng để bảo đảm cho việc thực hiện thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm và tái thẩm.”
19. Điều 90 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 90. Trưng cầu giám định
1. Theo sự thoả thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định trưng cầu giám định. Trong quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ tên, địa chỉ của người giám định, đối tượng cần giám định, những vấn đề cần giám định, các yêu cầu cụ thể cần có kết luận của người giám định.
2. Người giám định nhận được quyết định trưng cầu giám định phải tiến hành giám định theo quy định của pháp luật.
3. Trong trường hợp xét thấy kết luận giám định chưa đầy đủ, rõ ràng hoặc có vi phạm pháp luật thì theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Thẩm phán ra quyết định giám định bổ sung hoặc giám định lại.
Người đã thực hiện việc giám định trước đó không được thực hiện giám định lại. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 của Bộ luật này không được thực hiện việc giám định.”
20. Điều 92 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 92. Định giá tài sản, thẩm định giá tài sản
1. Các bên có quyền tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tổ chức thẩm định giá tài sản.
Toà án ra quyết định định giá tài sản đang tranh chấp trong các trường hợp sau đây:
a) Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự;
b) Các bên thoả thuận với nhau hoặc với tổ chức thẩm định giá theo mức giá thấp nhằm trốn tránh nghĩa vụ với Nhà nước.
2. Hội đồng định giá do Toà án thành lập gồm Chủ tịch Hội đồng định giá là đại diện cơ quan tài chính và thành viên là đại diện các cơ quan chuyên môn có liên quan. Người đã tiến hành tố tụng trong vụ án đó, người quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 46 của Bộ luật này không được tham gia Hội đồng định giá.
Hội đồng định giá chỉ tiến hành định giá khi có mặt đầy đủ các thành viên của Hội đồng. Trong trường hợp cần thiết, đại diện Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có tài sản định giá được mời chứng kiến việc định giá. Các đương sự được thông báo trước về thời gian, địa điểm tiến hành định giá, có quyền tham dự và phát biểu ý kiến về việc định giá. Quyền quyết định về giá đối với tài sản định giá thuộc Hội đồng định giá.
3. Cơ quan tài chính và các cơ quan chuyên môn có liên quan có trách nhiệm cử người tham gia Hội đồng định giá và tạo điều kiện để họ làm nhiệm vụ. Người được cử làm thành viên Hội đồng định giá có trách nhiệm tham gia đầy đủ vào việc định giá. Trường hợp cơ quan tài chính, các cơ quan chuyên môn không cử người tham gia Hội đồng định giá; người được cử tham gia Hội đồng định giá không tham gia mà không có lý do chính đáng thì tùy theo mức độ vi phạm bị xử lý theo quy định của pháp luật.
4. Việc định giá phải được ghi thành biên bản, trong đó ghi rõ ý kiến của từng thành viên, của đương sự nếu họ tham dự. Quyết định của Hội đồng định giá phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành. Các thành viên Hội đồng định giá, đương sự, người chứng kiến ký tên vào biên bản.
5. Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Toà án yêu cầu tổ chức thẩm định giá tài sản tiến hành thẩm định giá. Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản. Kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định giá được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.
6. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Điều này.”
21. Điều 94 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 94. Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ
1. Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn.
Đương sự yêu cầu Toà án thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó.
2. Toà án, Viện kiểm sát có thể trực tiếp hoặc bằng văn bản yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ.
Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án, Viện kiểm sát trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời chứng cứ theo yêu cầu của Toà án, Viện kiểm sát thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.”
22. Điều 159 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 159. Thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu
1. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền yêu cầu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự thì thực hiện như sau:
a) Tranh chấp về quyền sở hữu tài sản; tranh chấp về đòi lại tài sản do người khác quản lý, chiếm hữu; tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện;
b) Tranh chấp không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự là hai năm, kể từ ngày cá nhân, cơ quan, tổ chức biết được quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
4. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật. Trường hợp pháp luật không có quy định về thời hiệu yêu cầu thì thời hiệu yêu cầu để Toà án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, trừ các việc dân sự có liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu yêu cầu.”
23. Điều 164 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 164. Hình thức, nội dung đơn khởi kiện
1. Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện phải làm đơn khởi kiện.
2. Đơn khởi kiện phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn khởi kiện;
b) Tên Toà án nhận đơn khởi kiện;
c) Tên, địa chỉ của người khởi kiện;
d) Tên, địa chỉ của người có quyền và lợi ích được bảo vệ, nếu có;
đ) Tên, địa chỉ của người bị kiện;
e) Tên, địa chỉ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nếu có;
g) Những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết đối với bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
h) Họ, tên, địa chỉ của người làm chứng, nếu có.
3. Người khởi kiện là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn; trường hợp khởi kiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự thì đơn khởi kiện do người đại diện theo pháp luật của những người này ký tên hoặc điểm chỉ. Kèm theo đơn khởi kiện phải có các tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của người khởi kiện là có căn cứ và hợp pháp.
Trường hợp người khởi kiện không biết chữ, không nhìn được, không thể tự mình ký tên hoặc điểm chỉ thì phải có người làm chứng và người này phải ký xác nhận trước mặt người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã. Người có thẩm quyền chứng thực của Ủy ban nhân dân cấp xã chứng nhận trước mặt người khởi kiện và người làm chứng.”
24. Điều 168 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 168. Trả lại đơn khởi kiện, hậu quả của việc trả lại đơn khởi kiện
1. Toà án trả lại đơn khởi kiện trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện không có quyền khởi kiện hoặc không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Sự việc đã được giải quyết bằng bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án hoặc quyết định đã có hiệu lực của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp vụ án mà Toà án bác đơn xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, xin thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;
c) Hết thời hạn được thông báo quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật này mà người khởi kiện không nộp biên lai thu tiền tạm ứng án phí cho Toà án, trừ trường hợp có trở ngại khách quan hoặc bất khả kháng;
d) Chưa có đủ điều kiện khởi kiện;
đ) Vụ án không thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án.
2. Khi trả lại đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo cho người khởi kiện, Toà án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Đương sự có quyền nộp đơn khởi kiện lại trong các trường hợp sau đây:
a) Người khởi kiện có quyền khởi kiện hoặc đã đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự;
b) Xin ly hôn, xin thay đổi nuôi con, thay đổi mức cấp dưỡng, mức bồi thường thiệt hại, xin thay đổi người quản lý tài sản, thay đổi người quản lý di sản hoặc vụ án đòi tài sản, đòi tài sản cho thuê, cho mượn, đòi nhà, đòi quyền sử dụng đất cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ mà trước đó Toà án chưa chấp nhận yêu cầu do chưa đủ điều kiện khởi kiện;
c) Đã có đủ điều kiện khởi kiện;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
4. Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành khoản 1 và khoản 3 Điều này.”
25. Điều 170 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 170. Khiếu nại, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện
1. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo do Toà án trả lại, người khởi kiện có quyền khiếu nại với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.
Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản trả lại đơn khởi kiện của Toà án, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đã trả lại đơn khởi kiện.
2. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
3. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được quyết định trả lời đơn khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện của Chánh án Toà án, người khởi kiện có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp xem xét, giải quyết.
4. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được khiếu nại, kiến nghị về việc trả lại đơn khởi kiện, Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải ra một trong các quyết định sau đây:
a) Giữ nguyên việc trả lại đơn khởi kiện;
b) Yêu cầu Toà án cấp sơ thẩm nhận lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo để tiến hành việc thụ lý vụ án.
Quyết định giải quyết khiếu nại, kiến nghị của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng. Quyết định của Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp phải được gửi ngay cho người khởi kiện, Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát đã kiến nghị và Toà án đã ra quyết định trả lại đơn khởi kiện.”
26. Điều 176 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 176. Quyền yêu cầu phản tố của bị đơn
1. Cùng với việc phải nộp cho Toà án văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện, bị đơn có quyền yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập.
2. Yêu cầu phản tố của bị đơn đối với nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập được chấp nhận khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Yêu cầu phản tố để bù trừ nghĩa vụ với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
b) Yêu cầu phản tố được chấp nhận dẫn đến loại trừ việc chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập;
c) Giữa yêu cầu phản tố và yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có sự liên quan với nhau và nếu được giải quyết trong cùng một vụ án thì làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
3. Bị đơn có quyền đưa ra yêu cầu phản tố trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.”
27. Điều 177 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 177. Quyền yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
1. Trong trường hợp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tham gia tố tụng với bên nguyên đơn hoặc với bên bị đơn thì họ có quyền yêu cầu độc lập khi có các điều kiện sau đây:
a) Việc giải quyết vụ án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ;
b) Yêu cầu độc lập của họ có liên quan đến vụ án đang được giải quyết;
c) Yêu cầu độc lập của họ được giải quyết trong cùng một vụ án làm cho việc giải quyết vụ án được chính xác và nhanh hơn.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu độc lập trước khi Toà án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.”
28. Điều 184 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 184. Thành phần phiên hoà giải
1. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải.
2. Thư ký Toà án ghi biên bản hoà giải.
3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của các đương sự.
Trong vụ án có nhiều đương sự, mà có đương sự vắng mặt, nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì Thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đương sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì Thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải. Thẩm phán thông báo việc hoãn phiên hoà giải và việc mở lại phiên hoà giải cho đương sự biết.
4. Trong trường hợp cần thiết, Thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải.
5. Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt.”
29. Bổ sung Điều 185a như sau:
“Điều 185a. Trình tự hoà giải
1. Trước khi tiến hành hoà giải, Thư ký Toà án báo cáo Thẩm phán về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên hoà giải đã được Toà án thông báo. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hoà giải.
2. Thẩm phán chủ trì phiên hoà giải theo nội dung hoà giải quy định tại Điều 185 của Bộ luật này.
3. Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của đương sự trình bày ý kiến của mình về những nội dung tranh chấp và đề xuất những vấn đề cần hoà giải.
4. Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vấn đề chưa thống nhất và yêu cầu các bên đương sự trình bày bổ sung về những nội dung chưa rõ, chưa thống nhất.
5. Thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã hoà giải thành và vấn đề chưa thống nhất.”
30. Điều 189 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 189. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Đương sự là cá nhân đã chết, cơ quan, tổ chức đã sáp nhập, chia, tách, giải thể mà chưa có cá nhân, cơ quan, tổ chức kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó.
2. Đương sự là cá nhân mất năng lực hành vi dân sự mà chưa xác định được người đại diện theo pháp luật.
3. Chấm dứt đại diện hợp pháp của đương sự mà chưa có người thay thế.
4. Cần đợi kết quả giải quyết vụ án khác có liên quan hoặc sự việc được pháp luật quy định là phải do cơ quan, tổ chức khác giải quyết trước mới giải quyết được vụ án.
5. Cần đợi kết quả thực hiện ủy thác tư pháp hoặc đợi cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Toà án mới giải quyết được vụ án mà thời hạn giải quyết đã hết.
6. Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.”
31. Điều 192 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 192. Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Sau khi thụ lý vụ án thuộc thẩm quyền của mình, Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau đây:
a) Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ không được thừa kế;
b) Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ chức đó;
c) Người khởi kiện rút đơn khởi kiện và được Toà án chấp nhận hoặc người khởi kiện không có quyền khởi kiện;
d) Cơ quan, tổ chức rút văn bản khởi kiện trong trường hợp không có nguyên đơn hoặc nguyên đơn yêu cầu không tiếp tục giải quyết vụ án;
đ) Các đương sự đã tự thoả thuận và không yêu cầu Toà án tiếp tục giải quyết vụ án;
e) Nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt hoặc vì sự kiện bất khả kháng;
g) Đã có quyết định của Toà án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó;
h) Thời hiệu khởi kiện đã hết;
i) Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật này mà Toà án đã thụ lý;
k) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, xoá tên vụ án đó trong sổ thụ lý và trả lại đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho đương sự nếu có yêu cầu.”
32. Điều 193 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 193. Hậu quả của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
1. Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 168, các điểm c, e và g khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại các điểm a, b, d, đ, e và k khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được sung vào công quỹ nhà nước.
3. Trong trường hợp Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại các điểm c, g, h và i khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này thì tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp được trả lại cho họ.
4. Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.”
33. Điều 195 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 195. Quyết định đưa vụ án ra xét xử
1. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Toà án ra quyết định;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Tên, địa chỉ của nguyên đơn, bị đơn hoặc người khác khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
đ) Họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án và họ, tên Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân dự khuyết, nếu có;
e) Họ, tên Kiểm sát viên tham gia phiên toà, Kiểm sát viên dự khuyết, nếu có;
g) Ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm mở phiên toà;
h) Xét xử công khai hoặc xét xử kín;
i) Họ, tên những người được triệu tập tham gia phiên toà.
2. Quyết định đưa vụ án ra xét xử phải được gửi cho các đương sự, Viện kiểm sát cùng cấp ngay sau khi ra quyết định.
Trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên toà theo quy định tại khoản 2 Điều 21 của Bộ luật này thì Toà án phải gửi hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp; trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ, Viện kiểm sát phải nghiên cứu và trả lại hồ sơ cho Toà án.”
34. Điều 199 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 199. Sự có mặt của đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
1. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt; trường hợp có người vắng mặt thì Hội đồng xét xử hoãn phiên toà, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Toà án thông báo cho đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự biết việc hoãn phiên toà.
2. Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên toà, nếu vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng thì xử lý như sau:
a) Nguyên đơn, người đại diện theo pháp luật vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện và Toà án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có quyền khởi kiện lại, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
b) Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì Toà án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
c) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên toà thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập của mình và Toà án quyết định đình chỉ việc giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu độc lập đó, nếu thời hiệu khởi kiện vẫn còn;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ.”
35. Điều 202 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 202. Xét xử trong trường hợp đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự vắng mặt tại phiên toà
Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án trong các trường hợp sau đây:
1. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người đại diện của họ vắng mặt tại phiên toà có đơn đề nghị Toà án xét xử vắng mặt;
2. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà nhưng có người đại diện tham gia phiên toà;
3. Các trường hợp quy định tại điểm b và điểm d khoản 2 Điều 199 của Bộ luật này.”
36. Điều 208 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 208. Thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà
1. Trong trường hợp Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà theo quy định tại khoản 2 Điều 51, khoản 2 Điều 72, các điều 199, 204, 205, 206, 207, 215, khoản 4 Điều 230 và các trường hợp khác theo quy định của Bộ luật này, thì thời hạn hoãn phiên toà sơ thẩm là không quá ba mươi ngày, kể từ ngày ra quyết định hoãn phiên toà.
2. Quyết định hoãn phiên toà phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm ra quyết định;
b) Tên Toà án và họ, tên những người tiến hành tố tụng;
c) Vụ án được đưa ra xét xử;
d) Lý do của việc hoãn phiên toà;
đ) Thời gian, địa điểm mở lại phiên toà.
3. Quyết định hoãn phiên toà phải được chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử ký tên và thông báo công khai cho những người tham gia tố tụng biết; đối với người vắng mặt thì Toà án gửi ngay cho họ quyết định đó, đồng thời gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp.
4. Trong trường hợp sau khi hoãn phiên toà mà Toà án không thể mở lại phiên toà đúng thời gian, địa điểm mở lại phiên toà ghi trong quyết định hoãn phiên toà thì Toà án phải thông báo ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp và những người tham gia tố tụng biết về thời gian, địa điểm mở lại phiên toà.”
37. Điều 234 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 234. Phát biểu của Kiểm sát viên
1. Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
2. Viện kiểm sát nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.”
38. Điều 257 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 257. Thụ lý vụ án để xét xử phúc thẩm
1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ vụ án, kháng cáo, kháng nghị và tài liệu, chứng cứ kèm theo, Toà án cấp phúc thẩm phải vào sổ thụ lý.
Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày thụ lý vụ án, Toà án phải thông báo bằng văn bản cho các đương sự và Viện kiểm sát cùng cấp về việc Toà án đã thụ lý vụ án.
2. Chánh án Toà án cấp phúc thẩm hoặc Chánh toà Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao thành lập Hội đồng xét xử phúc thẩm và phân công một Thẩm phán làm chủ toạ phiên toà.”
39. Điều 260 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 260. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án
1. Toà án cấp phúc thẩm quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hoặc một phần vụ án trong các trường hợp sau đây:
a) Trong các trường hợp quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 192 của Bộ luật này;
b) Người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị;
c) Người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị;
d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
2. Trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì Thẩm phán được phân công làm chủ toạ phiên toà ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm; trong trường hợp người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị sau khi Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm, thì Hội đồng xét xử phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
Trong các trường hợp này, bản án, quyết định sơ thẩm có hiệu lực pháp luật từ ngày Toà án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
3. Trong trường hợp người kháng cáo rút một phần kháng cáo hoặc Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định về việc người kháng cáo rút một phần kháng cáo, Viện kiểm sát rút một phần kháng nghị và quyết định đình chỉ xét xử phần kháng cáo, kháng nghị đó trong bản án phúc thẩm.”
40. Điều 262 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 262. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nghiên cứu
1. Sau khi ra quyết định đưa vụ án ra xét xử, Toà án cấp phúc thẩm phải chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát cùng cấp nghiên cứu.
2. Thời hạn nghiên cứu hồ sơ của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ án; hết thời hạn đó, Viện kiểm sát phải trả hồ sơ vụ án cho Toà án.”
41. Điều 264 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 264. Những người tham gia phiên toà phúc thẩm
1. Người kháng cáo, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải được triệu tập tham gia phiên toà. Toà án có thể triệu tập những người tham gia tố tụng khác tham gia phiên toà nếu xét thấy cần thiết cho việc giải quyết kháng cáo, kháng nghị.
2. Kiểm sát viên Viện kiểm sát cùng cấp phải tham gia phiên toà phúc thẩm.”
42. Điều 266 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 266. Hoãn phiên toà phúc thẩm
1. Kiểm sát viên tham gia phiên toà vắng mặt thì phải hoãn phiên toà.
2. Người kháng cáo, người không kháng cáo nhưng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ nhất mà vắng mặt thì phải hoãn phiên toà. Trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt thì Toà án tiến hành phiên toà phúc thẩm xét xử vắng mặt họ.
3. Người kháng cáo, người tham gia tố tụng khác không phải là người kháng cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt thì việc hoãn phiên toà, đình chỉ xét xử phúc thẩm hay vẫn tiến hành xét xử phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại các điều 199, 202, 204, 205 và 206 của Bộ luật này.
4. Thời hạn hoãn phiên toà và quyết định hoãn phiên toà phúc thẩm được thực hiện theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật này.”
43. Điều 271 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 271. Nghe lời trình bày của đương sự, Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm
1. Trường hợp có đương sự vẫn giữ kháng cáo hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ kháng nghị thì Hội đồng xét xử phúc thẩm bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe lời trình bày của đương sự, Kiểm sát viên theo trình tự sau đây:
a) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự kháng cáo trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo. Người kháng cáo có quyền bổ sung ý kiến.
Trường hợp tất cả các đương sự đều kháng cáo thì việc trình bày được thực hiện theo thứ tự người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn kháng cáo và nguyên đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn kháng cáo và bị đơn; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Trường hợp chỉ có Viện kiểm sát kháng nghị thì Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị. Trường hợp vừa có kháng cáo, vừa có kháng nghị thì các đương sự trình bày về nội dung kháng cáo và các căn cứ của việc kháng cáo trước, sau đó Kiểm sát viên trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị;
b) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khác có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị. Đương sự có quyền bổ sung ý kiến.
2. Trường hợp đương sự không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày ý kiến về nội dung kháng cáo, kháng nghị và đề nghị của mình.
3. Tại phiên toà phúc thẩm, đương sự, Kiểm sát viên có quyền xuất trình bổ sung chứng cứ.”
44. Bổ sung Điều 273a như sau:
“Điều 273a. Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên toà phúc thẩm
Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án dân sự ở giai đoạn phúc thẩm.”
45. Điều 275 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 275. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm
Hội đồng xét xử phúc thẩm có các quyền sau đây:
1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
2. Sửa bản án sơ thẩm;
3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án;
4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.”
46. Điều 277 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 277. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án
Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
1. Việc chứng minh và thu thập chứng cứ không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này hoặc chưa được thực hiện đầy đủ mà tại phiên toà phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được;
2. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.”
47. Điều 284 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 284. Phát hiện bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cần xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Trong thời hạn một năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với những người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Toà án, Viện kiểm sát hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có quyền kháng nghị quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.”
48. Bổ sung Điều 284a và Điều 284b như sau:
“Điều 284a. Đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Đơn đề nghị phải có các nội dung chính sau đây:
a) Ngày, tháng, năm làm đơn đề nghị;
b) Tên, địa chỉ của người đề nghị;
c) Tên bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đề nghị xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm;
d) Lý do đề nghị, yêu cầu của người đề nghị;
đ) Người đề nghị là cá nhân phải ký tên hoặc điểm chỉ; người đề nghị là cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn.
2. Người đề nghị phải gửi kèm theo đơn bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho những yêu cầu của mình là có căn cứ.
3. Đơn đề nghị và tài liệu, chứng cứ được gửi cho người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm quy định tại Điều 285 của Bộ luật này.
Điều 284b. Thủ tục nhận và xem xét đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Toà án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị do đương sự nộp trực tiếp tại Toà án, Viện kiểm sát hoặc gửi qua bưu điện và phải ghi vào sổ nhận đơn. Ngày gửi đơn được tính từ ngày đương sự nộp đơn tại Toà án, Viện kiểm sát hoặc ngày có dấu bưu điện nơi gửi.
2. Toà án, Viện kiểm sát nhận đơn đề nghị phải cấp giấy xác nhận đã nhận đơn cho đương sự.
3. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có trách nhiệm phân công cán bộ tiến hành nghiên cứu đơn, hồ sơ vụ án, báo cáo người có quyền kháng nghị xem xét, quyết định. Trường hợp không kháng nghị thì thông báo bằng văn bản cho đương sự biết.
4. Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thủ tục tiếp nhận, xử lý đơn đề nghị xem xét bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm.”
49. Điều 288 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 288. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm
1. Người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quyền kháng nghị trong thời hạn ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm hai năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:
a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 284 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;
b) Bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại Điều 283 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó.”
50. Điều 297 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 297. Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm
Hội đồng giám đốc thẩm có các quyền sau đây:
1. Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật;
2. Hủy bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Toà án cấp dưới đã bị hủy hoặc bị sửa;
3. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại;
4. Hủy bản án, quyết định của Toà án đã xét xử vụ án và đình chỉ giải quyết vụ án.”
51. Điều 299 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 299. Hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại
Hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định hủy một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại trong các trường hợp sau đây:
1. Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Chương VII của Bộ luật này;
2. Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;
3. Thành phần của Hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định của Bộ luật này hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng.”
52. Bổ sung Chương XIXa như sau:
“CHƯƠNG XIXa
THỦ TỤC ĐẶC BIỆT XEM XÉT LẠI QUYẾT ĐỊNH
CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO
Điều 310a. Yêu cầu, kiến nghị, đề nghị xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
1. Khi có căn cứ xác định quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định mà Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, đương sự không biết được khi ra quyết định đó, nếu có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó.
2. Trường hợp có yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao để xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
3. Trường hợp có kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc Chánh án Toà án nhân dân tối cao phát hiện vi phạm, tình tiết mới thì Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị đó.
Trường hợp nhất trí với kiến nghị của Ủy ban tư pháp của Quốc hội, kiến nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao, thì Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra quyết định giao Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức nghiên cứu hồ sơ vụ án, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét, quyết định. Trường hợp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao không nhất trí với kiến nghị, đề nghị thì phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do.
4. Phiên họp của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét kiến nghị, đề nghị quy định tại khoản 3 Điều này phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Điều 310b. Thủ tục và thẩm quyền xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
1. Chánh án Toà án nhân dân tối cao có trách nhiệm tổ chức việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ, báo cáo Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao trong thời hạn bốn tháng, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định tại khoản 2 Điều 310a của Bộ luật này hoặc kể từ ngày có quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định tại khoản 3 Điều 310a của Bộ luật này.
2. Phiên họp Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải có sự tham dự của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Trường hợp xét thấy cần thiết, Toà án nhân dân tối cao có thể mời cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đến tham dự phiên họp.
3. Sau khi nghe Chánh án Toà án nhân dân tối cao báo cáo, nghe ý kiến của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, của cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan được mời tham dự, nếu có, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao ra quyết định hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao; hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án cấp dưới có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có tình tiết quan trọng mới làm thay đổi cơ bản nội dung bản án, quyết định và tùy từng trường hợp mà quyết định như sau:
a) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và quyết định về nội dung vụ án;
b) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật và xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Toà án nhân dân tối cao có quyết định vi phạm pháp luật nghiêm trọng bị hủy do lỗi vô ý hoặc cố ý và gây thiệt hại cho đương sự hoặc xác định trách nhiệm bồi hoàn giá trị tài sản theo quy định của pháp luật;
c) Hủy quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật để giao hồ sơ vụ án cho Toà án cấp dưới giải quyết theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao phải được ít nhất ba phần tư tổng số thành viên của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao biểu quyết tán thành.
5. Toà án nhân dân tối cao chủ trì phối hợp với Viện kiểm sát nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này.”
53. Điều 311 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 311. Phạm vi áp dụng
Toà án áp dụng những quy định của Chương này, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật này không trái với những quy định của Chương này để giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 6, 7 và 8 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28, khoản 1 và khoản 4 Điều 30, khoản 3 Điều 32 của Bộ luật này.
Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động.”
54. Bổ sung Điều 313a như sau:
“Điều 313a. Quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự
1. Trước khi mở phiên họp, việc thay đổi và cử Thẩm phán, Thư ký Toà án do Chánh án của Toà án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Toà án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định.
2. Việc thay đổi Thẩm phán tại phiên họp giải quyết việc dân sự được thực hiện như sau:
a) Trường hợp việc dân sự do một Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi Thẩm phán do Chánh án của Toà án đang giải quyết việc dân sự đó quyết định; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Toà án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Toà án cấp trên trực tiếp quyết định;
b) Trường hợp việc dân sự do Hội đồng giải quyết việc dân sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi thành viên Hội đồng do Hội đồng giải quyết việc dân sự quyết định.
3. Trước khi mở phiên họp và tại phiên họp, việc thay đổi và cử Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp quyết định; nếu Kiểm sát viên bị thay đổi là Viện trưởng Viện kiểm sát thì việc thay đổi do Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp quyết định.”
55. Điều 314 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 314. Thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự
1. Phiên họp giải quyết việc dân sự được tiến hành theo trình tự sau đây:
a) Thư ký Toà án báo cáo về sự có mặt, vắng mặt của những người tham gia phiên họp;
b) Thẩm phán khai mạc phiên họp, kiểm tra về sự có mặt, vắng mặt của những người được triệu tập tham gia phiên họp và căn cước của họ, giải thích quyền và nghĩa vụ của người tham gia phiên họp;
c) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày về những vấn đề cụ thể yêu cầu Toà án giải quyết, lý do, mục đích và căn cứ của việc yêu cầu Toà án giải quyết việc dân sự đó;
d) Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ trình bày ý kiến của mình về những vấn đề có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong việc giải quyết việc dân sự;
đ) Người làm chứng trình bày ý kiến; người giám định trình bày kết luận giám định, giải thích những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn;
e) Thẩm phán xem xét tài liệu, chứng cứ;
g) Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự;
h) Thẩm phán xem xét, quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự.
2. Trong trường hợp có người vắng mặt thì Thẩm phán cho công bố lời khai, tài liệu, chứng cứ do người đó cung cấp hoặc đã khai với Toà án.”
56. Bổ sung các điều 339a, 339b và 339c như sau:
“Điều 339a. Đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
1. Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người làm chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có quyền yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu khi có căn cứ cho rằng việc công chứng có vi phạm pháp luật theo quy định của pháp luật về công chứng.
2. Đơn yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu phải có các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 312 của Bộ luật này.
3. Gửi kèm theo đơn yêu cầu Toà án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là có căn cứ và hợp pháp.
Điều 339b. Chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
1. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu là ba mươi ngày, kể từ ngày Toà án thụ lý đơn yêu cầu; hết thời hạn đó, Toà án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
2. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, Toà án có thẩm quyền thông báo ngay cho Phòng công chứng, Văn phòng công chứng hoặc Công chứng viên đã thực hiện việc công chứng, người yêu cầu công chứng, người có quyền, lợi ích liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và Viện kiểm sát cùng cấp.
3. Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, nếu người yêu cầu rút đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định đình chỉ việc xét đơn yêu cầu.
4. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp, Toà án phải mở phiên họp để xét đơn yêu cầu.
Điều 339c. Quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu
1. Toà án có thể chấp nhận hoặc không chấp nhận đơn yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu.
2. Trong trường hợp chấp nhận đơn yêu cầu thì Toà án ra quyết định tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu, trong quyết định này Toà án phải quyết định về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu theo quy định của pháp luật.”
57. Điều 340 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 340. Những việc dân sự liên quan đến hoạt động Trọng tài thương mại Việt Nam thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án
1. Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên.
2. Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời.
3. Hủy quyết định trọng tài.
4. Giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài.
5. Thu thập chứng cứ.
6. Triệu tập người làm chứng.
7. Đăng ký phán quyết trọng tài.
8. Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định.”
58. Điều 375 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 375. Những bản án, quyết định của Toà án được thi hành
1. Những bản án, quyết định dân sự của Toà án được thi hành là những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bao gồm:
a) Bản án, quyết định hoặc phần bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm;
b) Bản án, quyết định của Toà án cấp phúc thẩm;
c) Quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Toà án; quyết định theo thủ tục đặc biệt của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao quy định tại Điều 310b của Bộ luật này;
d) Bản án, quyết định dân sự của Toà án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã có quyết định có hiệu lực pháp luật của Toà án Việt Nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam.
2. Những bản án, quyết định sau đây của Toà án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị:
a) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tổn thất tinh thần của công dân;
b) Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.”
59. Bãi bỏ các điều 200, 201, 203, 376, 377, 378, 379 và 383.
Điều 2
1. Luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2012.
2. Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình hướng dẫn thi hành Luật này.
______________________________________________________________
Luật này đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29 tháng 3 năm 2011
CHỦ TỊCH QUỐC HỘI
Nguyễn Phú Trọng

PHÁP LỆNH THẨM PHÁN HTND SDBS 2011

PHÁP LỆNH
CỦA UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI SỐ 02/2002/PL-UBTVQH11
NGÀY 4 THÁNG 10 NĂM 2002 VỀ THẨM PHÁN VÀ
HỘI THẨM TOÀ ÁN NHÂN DÂN
Phỏp lệnh số: 14/2011/UBTVQH12 Hà Nội, ngày 19 tháng 02 năm 2011
PHÁP LỆNH
SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA PHÁP LỆNH THẨM PHÁN VÀ HỘI THẨM CỦA TềA ÁN NHÂN DÂN


Căn cứ vào Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001/QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 10;
Căn cứ vào Luật tổ chức Toà án nhân dân;
Pháp lệnh này quy định về Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân.

CHƯƠNG I
NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG
Điều 1.
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Tũa ỏn nhõn dõn:
1. Điều 2 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 2
1. Thẩm phỏn Tũa ỏn nhõn dõn ở nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam gồm cú:
a) Thẩm phỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao;
b) Thẩm phỏn trung cấp;
c) Thẩm phán sơ cấp;
d) Thẩm phỏn Tũa ỏn quõn sự bao gồm Thẩm phỏn Tũa ỏn quõn sự trung ương đồng thời là Thẩm phán Tũa án nhân dân tối cao, Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp.
2. Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, Tũa ỏn quõn sự trung ương có Thẩm phán Tũa ỏn nhõn dõn tối cao. Tũa ỏn nhõn dõn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh), Tũa ỏn nhõn dõn huyện, quận, thị xó, thành phố thuộc tỉnh (gọi chung là Tũa ỏn nhõn dõn cấp huyện), Tũa ỏn quõn sự quõn khu và tương đương, Tũa ỏn quõn sự khu vực cú Thẩm phỏn trung cấp và Thẩm phỏn sơ cấp.
Số lượng Thẩm phán Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, Thẩm phỏn trung cấp, Thẩm phán sơ cấp do Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao.
3. Hội thẩm Tũa ỏn nhõn dõn ở nước Cộng hũa xó hội chủ nghĩa Việt Nam gồm cú:
a) Hội thẩm nhõn dõn Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh, Hội thẩm nhõn dõn Tũa ỏn nhõn dõn cấp huyện (gọi chung là Hội thẩm nhõn dõn);
b) Hội thẩm quõn nhõn Tũa ỏn quõn sự quõn khu và tương đương, Hội thẩm quân nhân Tũa ỏn quõn sự khu vực (gọi chung là Hội thẩm quõn nhõn).”

Điều 3
Việc xét xử của Toà án nhân dân địa phương có Hội thẩm nhân dân tham gia; việc xét xử của Toà án quân sự cấp quân khu và Toà án quân sự khu vực có Hội thẩm quân nhân tham gia theo quy định của pháp luật tố tụng. Khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với Thẩm phán.

Điều 4
Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Điều 5
1. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, có trình độ cử nhân luật và đã được đào tạo về nghiệp vụ xét xử, có thời gian công tác thực tiễn, có năng lực làm công tác xét xử theo quy định của Pháp lệnh này, có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán.
2. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có phẩm chất đạo đức tốt, liêm khiết và trung thực, có kiến thức pháp lý, có tinh thần kiên quyết bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, kiên quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao thì có thể được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.

Điều 6
Thẩm phán, Hội thẩm chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; nếu có hành vi vi phạm pháp luật thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật.

Điều 7
Thẩm phán, Hội thẩm phải giữ bí mật nhà nước và bí mật công tác theo quy định của pháp luật.

Điều 8
Thẩm phán, Hội thẩm trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà gây thiệt hại thì Toà án nơi Thẩm phán, Hội thẩm đó thực hiện nhiệm vụ xét xử phải có trách nhiệm bồi thường và Thẩm phán, Hội thẩm đã gây thiệt hại có trách nhiệm bồi hoàn cho Toà án theo quy định của pháp luật.

Điều 9
Thẩm phán, Hội thẩm được bồi dưỡng nghiệp vụ công tác xét xử.
Chánh án Toà án các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức bồi dưỡng nghiệp vụ cho Thẩm phán, Hội thẩm.

Điều 10
1. Thẩm phán, Hội thẩm phải tôn trọng nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân.
Khi phát hiện hành vi trái pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm thì cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân có quyền yêu cầu, kiến nghị, khiếu nại; cá nhân có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan có thẩm quyền để xem xét trách nhiệm đối với Thẩm phán, Hội thẩm.
2. Khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Thẩm phán, Hội thẩm có quyền liên hệ với cơ quan nhà nước, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân. Trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình các cơ quan, tổ chức và công dân có trách nhiệm tạo điều kiện để Thẩm phán, Hội thẩm làm nhiệm vụ.
Nghiêm cấm mọi hành vi cản trở Thẩm phán, Hội thẩm thực hiện nhiệm vụ.

CHƯƠNG II
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA THẨM PHÁN.
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI THẨM PHÁN.
ĐIỀU ĐỘNG, BIỆT PHÁI THẨM PHÁN

Điều 11
Thẩm phán làm nhiệm vụ xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Toà án theo sự phân công của Chánh án Toà án nơi mình công tác hoặc Toà án nơi mình được biệt phái đến làm nhiệm vụ có thời hạn.
Nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của Thẩm phán do pháp luật quy định.

Điều 12
Thẩm phán có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân thi hành những quyết định có liên quan đến việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác theo quy định của pháp luật.

Điều 13
Thẩm phán phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, có cuộc sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật.

Điều 14
Thẩm phán có trách nhiệm học tập, nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Toà án.

Điều 15
Thẩm phán không được làm những việc sau đây:
1. Những việc mà pháp luật quy định cán bộ, công chức không được làm;
2. Tư vấn cho bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác làm cho việc giải quyết vụ án hoặc những việc khác không đúng quy định của pháp luật;
3. Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết vụ án hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm giải quyết vụ án;
4. Đem hồ sơ vụ án hoặc tài liệu trong hồ sơ vụ án ra khỏi cơ quan, nếu không vì nhiệm vụ được giao hoặc không được sự đồng ý của người có thẩm quyền;
5. Tiếp bị can, bị cáo, đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác trong vụ án mà mình có thẩm quyền giải quyết ngoài nơi quy định.

Điều 16
Thẩm phán phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định.

Điều 17
1. Thẩm phán có thang bậc lương riêng, được hưởng phụ cấp trách nhiệm và các phụ cấp khác do pháp luật quy định.
2. Thẩm phán khi đi làm nhiệm vụ được miễn phí cầu, phà, đường theo quy định của pháp luật.

Điều 18
Thẩm phán được cấp trang phục, Giấy chứng minh Thẩm phán để làm nhiệm vụ.
Mẫu trang phục, chế độ cấp phát và sử dụng trang phục, Giấy chứng minh Thẩm phán do Chánh án Toà án nhân dân tối cao trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.

“Điều 19
1. Để bảo đảm cho các Tũa ỏn nhõn dõn thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao quyết định:
a) Điều động Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tũa ỏn nhõn dõn này đến làm nhiệm vụ tại Tũa ỏn nhân dân khác không cùng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Biệt phái Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tũa ỏn nhõn dõn này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Tũa ỏn nhõn dõn khỏc khụng cựng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
2. Để bảo đảm cho các Tũa ỏn nhõn dõn địa phương thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh quyết định:
a) Điều động Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tũa ỏn nhõn dõn này đến làm nhiệm vụ tại Tũa ỏn nhõn dõn khỏc trong cựng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương;
b) Biệt phái Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tũa ỏn nhõn dõn này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Tũa ỏn nhõn dõn khỏc trong cựng một tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
3. Để bảo đảm cho các Tũa ỏn quõn sự thực hiện chức năng, nhiệm vụ, Bộ trưởng Bộ Quốc phũng quyết định:
a) Điều động Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tũa ỏn quõn sự này đến làm nhiệm vụ tại Tũa ỏn quõn sự khỏc sau khi thống nhất với Chỏnh ỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao;
b) Biệt phỏi Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp từ Tũa ỏn quõn sự này đến làm nhiệm vụ có thời hạn tại Tũa ỏn quõn sự khỏc.”
3. Điều 20 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 20
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 Pháp lệnh này, có thời gian làm công tác pháp luật từ bốn năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tũa ỏn theo quy định của pháp luật tố tụng, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự.”
4. Điều 21 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 21
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đó là Thẩm phỏn sơ cấp ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tũa ỏn theo quy định của pháp luật tố tụng, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Tũa ỏn nhõn dõn, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đó cú thời gian làm cụng tác pháp luật từ mười năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tũa ỏn theo quy định của pháp luật tố tụng, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán trung cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự.”
5. Điều 22 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 22
1. Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đó là Thẩm phán trung cấp ít nhất là năm năm, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, Tũa ỏn quõn sự trung ương, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tũa ỏn nhõn dõn tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tũa ỏn quõn sự trung ương.
2. Trong trường hợp do nhu cầu cán bộ của ngành Tũa ỏn nhõn dõn, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều 5 của Pháp lệnh này và đó cú thời gian làm công tác pháp luật từ mười lăm năm trở lên, có năng lực xét xử những vụ án và giải quyết những việc khác thuộc thẩm quyền của Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, Tũa ỏn quõn sự trung ương, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tũa ỏn nhõn dân tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán Tũa ỏn quõn sự trung ương.”
6. Điều 23 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 23
Trong trường hợp cần thiết, người công tác trong ngành Tũa ỏn nhõn dân hoặc người do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền điều động đến công tác tại ngành Tũa ỏn nhõn dõn tuy chưa có đủ thời gian làm Thẩm phán sơ cấp hoặc Thẩm phán trung cấp hoặc chưa có đủ thời gian làm công tác pháp luật, nhưng có đủ các tiêu chuẩn khác quy định tại các điều 20, 21 hoặc Điều 22 của Pháp lệnh này, thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp hoặc Thẩm phán trung cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn hoặc Thẩm phỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao; nếu người đó là sĩ quan quân đội tại ngũ thỡ cú thể được tuyển chọn và bổ nhiệm làm Thẩm phán sơ cấp hoặc Thẩm phán trung cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự hoặc Thẩm phỏn Tũa ỏn quõn sự trung ương.”

CHƯƠNG III
TIÊU CHUẨN THẨM PHÁN. THỦ TỤC TUYỂN CHỌN,
BỔ NHIỆM, MIỄN NHIỆM, CÁCH CHỨC THẨM PHÁN

Điều 24
Nhiệm kỳ của Thẩm phán là năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.

“Điều 25
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tũa ỏn nhõn dõn gồm cú:
a) Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Tũa ỏn nhõn dõn tối cao, Thẩm phỏn Tũa ỏn quõn sự trung ương;
b) Các Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn;
c) Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán làm việc theo chế độ tập thể. Quyết định của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viờn biểu quyết tỏn thành.”

Điều 26
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương gồm có Chánh án Toà án nhân dân tối cao làm Chủ tịch, đại diện lãnh đạo Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là uỷ viên.
Danh sách uỷ viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương do Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Thẩm phán Toà án quân sự trung ương có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao và trình Chủ tịch nước cách chức.

“Điều 27
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn gồm cú Chủ tịch hoặc Phú Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh làm Chủ tịch, Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh, đại diện lónh đạo Sở Nội vụ, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành Hội luật gia cấp tỉnh là ủy viên.
Danh sách ủy viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn do Chỏnh ỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch Hội đồng nhân dân cấp tỉnh.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn cú những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn cú thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn nhõn dõn cú thể bị cỏch chức chức danh Thẩm phỏn quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn cấp tỉnh và đề nghị Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao cỏch chức.”
9. Điều 28 được sửa đổi, bổ sung như sau:
“Điều 28
1. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự gồm cú: Chỏnh Tũa ỏn quõn sự trung ương làm Chủ tịch, đại diện lónh đạo Bộ Quốc phũng, Bộ Nội vụ, Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban chấp hành trung ương Hội luật gia Việt Nam là ủy quyền.
Danh sách ủy viên Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự do Chỏnh ỏn Tũa ỏn nhõn dõn tối cao quyết định theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn quân sự trung ương.
2. Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự cú những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Tuyển chọn người đủ tiêu chuẩn làm Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự theo đề nghị của Chánh ỏn Tũa ỏn quõn sự trung ương và đề nghị Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao bổ nhiệm;
b) Xem xét những trường hợp Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự cú thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán quy định tại khoản 2 Điều 29 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn quõn sự trung ương và đề nghị Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao miễn nhiệm;
c) Xem xét những trường hợp Thẩm phán trung cấp, Thẩm phán sơ cấp thuộc Tũa ỏn quõn sự cú thể bị cỏch chức chức danh Thẩm phỏn quy định tại khoản 2 Điều 30 của Pháp lệnh này theo đề nghị của Chánh án Tũa ỏn quõn sự trung ương và đề nghị Chánh án Tũa ỏn nhõn dõn tối cao cỏch chức.”

Điều 29
1. Thẩm phán đương nhiên được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán khi nghỉ hưu.
2. Thẩm phán có thể được miễn nhiệm chức danh Thẩm phán do sức khoẻ, do hoàn cảnh gia đình hoặc vì lý do khác mà xét thấy không thể bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Điều 30
1. Thẩm phán đương nhiên bị mất chức danh Thẩm phán khi bị kết tội bằng bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.
2. Tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm, Thẩm phán có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán khi thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Vi phạm trong công tác xét xử, giải quyết những việc thuộc thẩm quyền của Toà án;
b) Vi phạm quy định tại Điều 15 của Pháp lệnh này;
c) Bị kỷ luật bằng hình thức cách chức chức vụ quản lý đang đảm nhiệm theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức;
d) Vi phạm về phẩm chất đạo đức;
đ) Có hành vi vi phạm pháp luật khác.

Điều 31
1. Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án Toà án quân sự trung ương do Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân tối cao.
2. Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân địa phương do Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân địa phương cùng cấp.
3. Chánh án, Phó Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự khu vực do Chánh án Toà án nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi thống nhất với Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
4. Trước khi đề nghị Chủ tịch nước, Chánh án Toà án nhân dân tối cao cách chức các chức vụ Chánh án, Phó Chánh án theo quy định tại khoản 1, khoản 2 hoặc khoản 3 của Điều này, nếu người đó thuộc một trong các trường hợp có thể bị cách chức chức danh Thẩm phán thì phải có ý kiến của Hội đồng tuyển chọn Thẩm phán có thẩm quyền tuyển chọn Thẩm phán đó.
5. Nhiệm kỳ của Phó Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự là năm năm, kể từ ngày được bổ nhiệm.

CHƯƠNG IV
NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA HỘI THẨM.
CHẾ ĐỘ ĐỐI VỚI HỘI THẨM.
TIÊU CHUẨN HỘI THẨM.
THỦ TỤC BẦU, CỬ, MIỄN NHIỆM, BÃI NHIỆM HỘI THẨM

Điều 32
1. Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Toà án nơi mình được bầu hoặc cử làm Hội thẩm.
2. Chánh án Toà án nhân dân địa phương, Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự khu vực có trách nhiệm quản lý Hội thẩm theo Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.
Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Hội thẩm.

Điều 33
1. Hội thẩm được bồi dưỡng về nghiệp vụ, tham gia hội nghị tổng kết công tác xét xử của Toà án.
Kinh phí bồi dưỡng về nghiệp vụ cho Hội thẩm được dự toán trong kinh phí hoạt động của Toà án nhân dân, có sự hỗ trợ của ngân sách địa phương.
2. Hội thẩm là cán bộ, công chức, quân nhân tại ngũ, công nhân quốc phòng thì thời gian làm nhiệm vụ Hội thẩm được tính vào thời gian làm việc ở cơ quan, đơn vị.

Điều 34
1. Hội thẩm được cấp trang phục, Giấy chứng minh Hội thẩm để làm nhiệm vụ xét xử.
Mẫu trang phục, chế độ cấp phát và sử dụng trang phục, Giấy chứng minh Hội thẩm do Chánh án Toà án nhân dân tối cao trình Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định.
2. Khi làm nhiệm vụ xét xử Hội thẩm được hưởng phụ cấp theo quy định của pháp luật.

Điều 35
Hội thẩm phải từ chối tham gia xét xử hoặc bị thay đổi trong các trường hợp do pháp luật tố tụng quy định.

Điều 36
Khi được Chánh án Toà án phân công làm nhiệm vụ xét xử thì Hội thẩm có nghĩa vụ tham gia mà không được từ chối, trừ trường hợp có lý do chính đáng.
Trong một năm mà Hội thẩm không được Chánh án Toà án phân công làm nhiệm vụ xét xử thì có quyền yêu cầu Chánh án Toà án cho biết lý do.

Điều 37
Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản 2 Điều 5 của Pháp lệnh này thì có thể được bầu làm Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương; nếu người đó là quân nhân tại ngũ, công chức, công nhân quốc phòng đang phục vụ trong quân đội thì có thể được cử làm Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp quân khu, Toà án quân sự khu vực.

Điều 38
1. Hội thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và do Hội đồng nhân dân cùng cấp miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án nhân dân cùng cấp sau khi thống nhất với Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp.
2. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự cấp quân khu do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự cấp quân khu sau khi thống nhất với cơ quan chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương.
3. Hội thẩm quân nhân Toà án quân sự khu vực do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương cử theo sự giới thiệu của cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương và do Chủ nhiệm chính trị quân khu, quân đoàn, quân chủng, tổng cục hoặc cấp tương đương miễn nhiệm, bãi nhiệm theo đề nghị của Chánh án Toà án quân sự khu vực sau khi thống nhất với cơ quan chính trị sư đoàn hoặc cấp tương đương.

Điều 39
1. Nhiệm kỳ của Hội thẩm nhân dân theo nhiệm kỳ của Hội đồng nhân dân cùng cấp.
Khi Hội đồng nhân dân hết nhiệm kỳ, Hội thẩm nhân dân tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Hội đồng nhân dân khoá mới bầu được Hội thẩm nhân dân mới.
2. Nhiệm kỳ của Hội thẩm quân nhân là năm năm, kể từ ngày được cử.

Điều 40
1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có người được bầu hoặc cử làm Hội thẩm có trách nhiệm tạo điều kiện để Hội thẩm làm nhiệm vụ.
2. Trong thời gian Hội thẩm làm nhiệm vụ theo sự phân công của Chánh án Toà án thì cơ quan, tổ chức, đơn vị vũ trang nhân dân có Hội thẩm đó không được điều động, phân công Hội thẩm làm việc khác, trừ trường hợp đặc biệt.

Điều 41
1. Hội thẩm có thể được miễn nhiệm vì lý do sức khoẻ hoặc lý do khác.
2. Hội thẩm bị bãi nhiệm khi có vi phạm về phẩm chất đạo đức hoặc có hành vi vi phạm pháp luật không còn xứng đáng làm Hội thẩm.

CHƯƠNG V
ĐIỀU KHOẢN THI HÀNH

1. Pháp lệnh này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2011.
2. Chớnh phủ, Tũa ỏn nhõn dõn tối cao trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mỡnh cú trỏch nhiệm hướng dẫn thi hành Pháp lệnh này.

TM. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI
CHỦ TỊCH




Nguyễn Phú Trọng

BẢO QUẢN MÁY ẢNH

máy ảnh - ống kính và cách bảo quản
Một vài cách bảo quản máy ảnh
Chào các bạn,
Trong chúng ta, những người yêu thích nhiếp ảnh, ai cũng sở hữu máy ảnh và một vài ống kính, và chắc ai cũng đều dành mọi ưu ái cưng chiều cho những thiết bị của mình, những phương tiện giúp chúng ta bắt lấy những khỏanh khắc đẹp.
Bảo quản máy ảnh và ống kính như thế nào cho tốt là một trong những điều mà ai cũng rất quan tâm.
Cá nhân mình cũng vậy, trước đây mình thường bảo quản thiết bị bằng hạt hút ẩm cho vào thùng kín, cách này cũng tương đối hiệu quả nhưng hiệu quả đến mức nào thì bản thân mình cũng không thể biết được vì không có cách kiểm sóat được độ ẩm là bao nhiêu? Sau khi tìm hiểu, tiếp cận và học hỏi các anh kỹ thuật viên ở một số trung tâm và anh Tấn ở đường Trần Hưng Đạo, một người đã làm nghề bảo dưỡng máy ảnh đã 8 năm, mình tổng kết một vài cách bảo quản máy ảnh và ống kính chia sẻ để các bạn tham khảo, mọi thông tin là do mình tổng kết và tự kết luận nên chỉ có giá trị cho các bạn tham khảo thôi nhé.
Hiểu thêm về nấm mốc
Như chúng ta đã biết, bệnh thường gặp của máy ảnh và ống kính là bị mốc do khí hậu ẩm và bảo quản chưa đúng hoặc sơ sài. Nấm mốc là một lọai vi khuẩn phát triển mạnh trong môi trường có độ ẩm từ 60% trở lên. Nếu nấm phát triển trên thân máy thì sẽ làm cho các mạch điện do bị ẩm sẽ bị ăn mòn dẫn đến họat động chập chờn, lâu ngày có thể hư hỏng. Nếu nấm phát triển trên ống kính thì ống kính sẽ bị loang lổ như rễ tre làm cho ảnh bị giảm chất lượng, bị halo hoặc rất mờ.
Do là một lọai vi khuẩn nên ở môi trường thuận lợi chúng sẽ lan ra và có thể lây nhiễm cho các thiết bị khác nếu chúng ta để gần nhau. Khi tồn tại trên bề mặt thấu kính các dung dịch mà chúng tiết ra sẽ ăn mòn lớp hóa chất phủ ống kính, nếu lâu ngày thì dù có lau cũng không thể hết được vì lớp hóa chất này đã bị ăn mòn.
Khi thiết bị bị nấm mốc
Theo các KTV bảo dưỡng máy ảnh thì khi mới phát hiện máy ảnh hoặc ống kính bị nấm mốc chúng ta nên đem bảo hành hoặc bảo dưỡng càng sớm càng tốt, điều này sẽ tránh cho thiết bị của chúng ta bị hư hỏng nặng hơn hoặc lây cho các thiết bị khác. Tại các nơi này, các KTV sẽ tháo ống kính ra và vệ sinh sạch sẽ, nếu nấm mốc nhẹ thì chỉ cần lau sơ là sạch ngay, còn nếu bị nặng thì sẽ lau bằng hóa chất nặng hơn, khi bị nấm ăn mòn lớp phủ thì dù lau sạch nhưng bề mặt thấu kính sẽ vẫn bị tỳ vết như vết sẹo trên mặt người đẹp vậy. Giải thích về thắc mắc là khi lau như vậy có thể gây mòn lớp phủ? Anh Tấn nói rằng đó là nhận định sai lầm vì lớp này được phủ trên bề mặt rất chắc chắn và phân tích rằng nếu để lâu sẽ bị tác hại như phần trên mình đã trình bày. Anh cũng nói rằng các ống kính đời mới có lớp phủ tuy chất lượng cao hơn nhưng rất mỏng.
Có những thông tin cho rằng sau khi lau, ống kính sẽ dễ bị mốc lại. Điều này đúng vì khi lắp các thấu kính, nhà sản xuất có tráng một lớp keo mỏng ngòai viền ống kính để cố định và ngăn không cho bụi lọt vào, khi lau ống kính thì KTV chỉ gắn thấu kính vào vị trí cũ mà không có lớp keo nên không khí sẽ lưu thông dễ dàng và vi khuẩn mốc sẽ len lỏi vào theo dễ dàng hơn. Điều này cho thấy tác dụng của việc bảo quản để thiết bị đừng bị nhiễm nấm mốc là việc làm rất quan trọng.
Một vài cách bảo quản
Theo nhiều thông tin thì máy ảnh và ống kính phải được bảo quản trong môi trường có độ ẩm từ 45% đến 50%. Theo mình biết thì ở môi trường thông thường tại Tp HCM có độ ẩm từ 65% trở lên.
- Bảo quản bằng cách cho thiết bị vào thùng kín có gạo rang bên trong, gạo rang lên sẽ khô và háo nước nên sẽ hút hết hơi ẩm trong thiết bị, phương pháp này cũng tương tự phương pháp dùng hạt hút ẩm.
Ưu điểm của phương pháp này là rẻ tiền.
Hạn chế là không biết được độ ẩm là bao nhiêu, độ ẩm có đạt ở mức cần thiết hay chưa? Điều này có thể khắc phục bằng cách mua thêm một đồng hồ đo độ ẩm để theo dõi, khi độ ẩm vượt ngưỡng thì ta có thể thay mới hoặc rang lại.
- Bảo quản bằng cách sưởi bằng đèn trái ớt là cách mà nhiều người cũng hay sử dụng, bằng cách bỏ thiết bị vào tủ có một hoặc hai đèn trái ớt và sưởi ấm liên tục. Vì chưa dùng phương pháp này nên mình chưa có kinh nghiệm, nhưng tốt nhất cũng nên mua một đồng hồ đo độ ẩm để theo dõi.
- Bảo quản bằng cách sưởi bằng tivi, phương pháp này theo anh Tấn thì rất hiệu quả và cũng theo anh thì có thể tiêu diệt cả nấm mốc do khi tivi hoạt động thì CRT phát ra một lượng từ trường nhất định. Người ta làm một cái tủ nhỏ có đáy bằng lưới và để sát trên tivi, mỗi ngày tivi họat động sẽ có tác dụng sưởi ấm thiết bị. Mình chưa thực nghịêm phương pháp này nhưng nhận thấy phương pháp này cũng hay với điều kiện là ngày nào cũng phải có người xem tivi vài tiếng thì mới có tác dụng.
- Bảo quản bằng cách để thiết bị trong tủ chống ẩm, đây là phương pháp có vẻ khoa học nhất, vì có đồng hồ đo và nguyên l‎ý họat động rõ ràng, và cũng tốn tiền nhất vì giá thành của tủ từ 100USD đến vài trăm USD. Nếu có điều kiện thì đầu tư cho 1 cái tủ cũng hợp l‎ý vì với giá trị máy ảnh và ống kính lên đến hơn hàng ngàn USD thì đầu tư cho tủ chống ẩm 100USD cũng thích hợp. Khi cài đặt độ ẩm phù hợp thì tủ sẽ tự động duy trì ở độ ẩm đó nên chúng ta không bận tâm lắm cho việc theo dõi.
Tất cả các cách bảo quản trên đây chỉ có tác dụng để duy trì độ ẩm cần thiết để giữ khô thiết bị chứ chưa có phương pháp nào lọai trừ hòan tòan nấm mốc. Một số người khuyên rằng lâu lâu nên đem máy ảnh và ống kính ra phơi dưới ánh nắng mặt trời để diệt nấm mốc. Mình thấy cũng hợp lý nhưng khi phơi các bạn nhớ coi chừng trời mưa nhé.
Trên đây là một vài phương pháp để bảo quản máy ảnh do mình tự tổng kết và biên sọan nên không tránh khỏi sai sót, mong các bạn bổ sung thêm để có nhiều thông tin và nhiều lựa chọn nhằm mục đích giúp đỡ mọi người chọn phương pháp bảo quản máy ảnh và ống kính phù hợp với điều kiện của mình.
• Ống kính
Ống kính là một tổ hợp các lăng kính giúp lấy cự ly xa, gần, tạo sự thuận lợi để người chụp có được những bức ảnh sắc nét. Và do là bộ phận có thể tháo lắp nên ống kính không tránh khỏi tình trạng thường xuyên bị bám bụi, ẩm mốc làm cho ảnh chụp bị nhòe hay nổi đốm màu.
Những dòng máy DSLR thế hệ mới với các công nghệ hiện đại có thể tự động làm sạch bụi ống kính và sensor. Những máy không có công nghệ tự làm sạch bụi thì phải làm vệ sinh ống kính thủ công bằng tay. Thông thường, cứ khoảng 3 tháng, phải vệ sinh ống kính một lần.
Bạn có thể đưa đến cửa hàng hiệu để thợ có đủ dụng cụ chuyên nghiệp làm. Trong quá trình dùng, nên thường xuyên bảo quản máy bằng cách lấy khăn mềm lau nhẹ nhàng toàn bộ ống kính và thân máy trước khi cho máy vào hộp hút ẩm hoặc tủ sấy. Trường hợp mang máy ra biển thì hạn chế nước biển thấm vào bất kỳ bộ phận nào trên máy.
Chú ý, không để cát chui vào ống kính, làm kẹt vòng xoay zoom. Nếu không để ý, xoay mạnh tay, ống kính bị dính cát sẽ làm gãy các cần xoay bên trong. Khi chọn mua ống kính, bạn nên chọn loại có lớp UV bảo vệ.
• 2
Sensor
Ảnh chụp không rõ nét, ngoài nguyên nhân ở ống kính thì bộ cảm biến ảnh (sensor) cũng là tác nhân trực tiếp. Nằm sâu phía trong máy, tiếp giáp với ống kính nên bộ phận này rất dễ bị bám bụi bẩn trong khi thay đổi ống kính.
Bạn có thể kiểm tra sensor có bụi không bằng cách tháo ống kính ra, bật đèn sáng. Nhấn vào Menu, chọn Clean Sensor, nhấn Set, màn hình hiện lên, khi đó bạn sẽ thấy một "con" sensor màu xanh. Nếu thấy xung quanh sensor có nhiều vết lốm đốm thì nó đã đến thời kỳ làm sạch.
Đối với các thế hệ máy sau này, khi sensor bị bụi bẩn, đã có chương trình tự động làm sạch bụi. Tuy nhiên, đối với những máy thế hệ cũ, không thể tự động làm sạch bụi trong sensor, bạn cũng có thể tự vệ sinh sensor bằng cách dùng dụng cụ bóp hơi. Cách làm này bụi sẽ được thổi ra ngoài khi bạn bóp hơi thổi bụi nhẹ nhàng lần lượt theo chiều ngang sensor. Quá trình thổi nên úp máy xuống và thổi từ dưới lên.

Thứ Sáu, 8 tháng 4, 2011

THƠ 2011

" Không phải ai xăm mình cũng xấu , nhưng những người xấu đều xăm mình .
" Tự hào từ bàn tay trắng , ta tạo nên ... vô số nợ .

" Ai cũng tưởng em điên , chứ thực ra em điên lắm !!!

" Thất bại vì ngại thành công ...

" Đừng bi quan , trong cái rủi nó còn có cái xui ...

" Đẹp trai , nhà giàu , có ... xe đạp riêng .
" Wánh nhau là tinh thần thể thao . Đạp nhau xuống ao ấy lại là tinh thần bơi lội ...

" Không cần mình đẹp ... Chỉ cần người khác xấu .

" Có khi nào trên đường đời tấp nập
tui zô tình dzấp phải bịch KIM CƯƠNG .

" Ngu không phải là cái tội mà cái tội là không biết mình ngu !

" Sống là phải cho đi ! Hãy cho đi tất cả những gì bạn có ,để rồi hối hận nhận ra rằng đòi lại sẽ rất khó !

" Không bao giờ bán đứng bạn bè khi chưa được giá .

" Chả biết gì về điện ... nhưng mà vẫn thích liếm cầu chì .

" Chúng ta rùi cũng sẽ già, sẽ lên nóc tủ ngắm con gà khỏa thân


Ai đưa con sáo sang sông
Để cho con sáo mắc công bay về

Cây nghiêng không sợ chết đứng

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho lòi tiền ra

MẤY đời bánh đúc có xương
máy đời gái chảnh mà thương trai nghèo

Ai bảo chăn trâu là khổ, tôi nay chăn nàng còn khổ hơn chăn trâu.




Nếu bạn không mua được cái gì bằng tiền, bạn hãy tin rằng nó sẽ mua được bằng...nhiều tiền hơn

Tiền không thành vấn đề ... vấn đề là không có tiền.

Lẳng lơ cũng chẳng có mòn
Chính chuyên cũng chẳng sơn son để thờ.

Trúc xinh trúc mọc bờ ao
Em xinh... không mặc tí nào càng xinh!

Con ơi chớ lấy pháo binh
Đêm đêm nó bắn rung rinh cửa nhà

Ðược voi đòi... Hai Bà Trưng

Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhau nhìn về... cái xe dựng ở gốc cây kẻo trộm chôm chỉa mất.

Gần mực thì... bia, Gần đèn thì... hút.

Học là để hiểu
Không hiểu thì phải hỏi
Đã hỏi thì phải hiểu
Hổng hiểu thì ... đừng hỏi............!!.


Người ta dùng thời gian để kiếm tiền ......rồi lại dùng tiền để đốt thời gian

Trước đây anh vẫn tin rằng không có địa ngục cho đến khi .....anh gặp em!

Không nên đánh phụ nữ dù chỉ bằng một cành hoa!! mà hãy quánh bằng một cành cây!!!

Người đàn ông thành đạt là người đàn ông kiếm được nhiều tiền hơn nhu cầu của vợ anh ta. Người phụ nữ thành đạt là người phụ nữ kiếm được một người chồng như vậy.

Một người vợ tốt là một người vợ biết tha thứ cho chồng khi . . . cô ta sai

Chép lại từ 1 quyển sách là đạo văn. Chép lại từ nhiều cuốn sách là nghiên cứu.

Hạnh phúc không ở tiền bạc, mà ở số lượng của nó.





Thầy giáo là tháo giầy, nhiều thầy giáo gọi là "Các thầy", hơi lớn tuổi, phụ huynh gọi là "Chú giáo", tóc bạc về hưu thì phụ huynh gọi là "Cụ giáo", cỡi hạc quy tiên thì thành "Ma giáo"


Chàng ơi thương lấy thiếp cùng,
Tuy rằng khác giống ...... nhưng chung một giường


Bánh tiêu thì phải có mè
Đời cần có chút rượu chè mới vui
Làm trai không thế vắng mùi
Thiếu tình, không rượu chôn vùi đời trai




Chắp tay lạy cụ tình yêu
Cho con lấy được nàng Kiều thời nay
Cụ nhìn trợn mắt cau mày
Không đưa hối lộ thì đây đếch ừ


Ghen
Bạn bè rủ đi chơi xa
Còn em trông nhà, có ngại ngần chi
Nhưng rồi anh lại không đi
Vì anh chợt nghĩ: Em thì ai trông?

Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ
Vô duyên đối diện đánh gãy giò

Trước cổng nhà thờ,anh và em...
Hai đứa hôn nhau, Chúa đứng xem...
Giật mình Chúa bảo: này hai đứa!
Hôn nhau như thế...Chúa cũng...thèm.


Nhất cóp , nhì quay, tam xoay , tứ giở !

Còn nói…còn tát

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây
Điểm cao nhớ kẻ cho “quay” hôm nào.


Quyết không yêu để tiền uống rượu
Khắc tên em lên cổ, cánh, chân gà




Học mà không chơi đánh rơi tuổi trẻ
Chơi mà không học bán rẻ tương lai
Thôi thì ta chọn cả hai
Vừa chơi vừa học tương lai huy hoàng


Thật ra có rất ít phụ nữ đẹp. Không phải vì phụ nữ không biết làm đẹp mà vì họ làm hoài mà...vẫn không đẹp


Muốn thắng trong điền kinh thì tốt nhất là vừa chạy vừa ....rải đinh

1 ngày có 24 giờ, cho nên trong một két bia sẽ có 24 chai ...

Tay bưng đĩa muối đĩa gừng
Chàng theo vợ bé em mừng lắm thay
Vì em cũng muốn chia tay
Để theo người khác quên ngày bên anh.











Em ứ lấy chồng công an đâu
Pháp luật luôn luôn ở trong đầu
Đêm về hai đứa đang yên giấc
Giật mình anh hỏi: "Giấy tờ đâu?"
Em ứ lấy chồng phi công đâu
Máy bay lượn lượn ở trên đầu
Đêm về hai đứa đang yên giấc
Giật mình anh hỏi: "Toạ độ đâu?"
Em ứ lấy chồng bộ đội đâu
Mũ cối luôn luôn đội trên đầu
Đêm về hai đứa đang yên giấc
Giật mình anh hỏi: "Bắn vào đâu?"
Em ứ lấy chồng IT đâu
Máy tính luôn luôn ở trong đầu
Đêm về hai đứa đang yên giấc
Giật mình anh hỏi: "Ổ mềm đâu?"
Em ứ lấy chồng thầy giáo đâu !
Sách vở luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"Trả bài mau!"

Em ứ lấy chồng bác sĩ đâu !
Kim chích luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"Chích vào đâu?"

Em ứ lấy chồng cảnh sát đâu !
Súng đạn luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"Bắn vào đâu?"

Em ứ lấy chồng làm nail đâu!
Máy dũa luôn luôn ở trong đầu
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình anh hỏi "dũa chổ nao?"

Em ứ lấy chồng thợ điện đâu !
Cầu chì luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình anh hỏi "Cắm vào đâu?"

em ứ lấy chồng giám đốc đâu
giấy tờ luôn cứ ở trong đầu
nửa đim hai đứa đang ngon giấc
gựt mình anh hỏi....."kí vào đâu"

em ứ lấy chồng thợ vẽ đâu
suốt ngày chỉ biết đến sơn dầu
nửa đim hai đứa đang ngon giấc
gựt mình anh hỏi....."cây cọ đâu"..


em ứ lấy chồng thơ may đâu
Chỉ kim luôn luôn ở trong đầu
Nữa đêm 2 đứa đang ngon giấc
Giựt mình tỉnh dậy: " may vào đâu "

Em ứ lấy chồng ai ty (IT) đâu !
PC với Net ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"nối mạng mau"

Em ứ lấy chồng nông dân đâu !
Cày Cuốc luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"Cuốc vào đâu?"

Em ứ lấy chồng công nhân đâu !
Kìm búa luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"bổ vào đâu?"

Em ứ lấy chồng thợ lặn đâu!
Bơi bơi hụp hụp ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"lặn vào đâu?"

em ứ lấy chồng thợ khoan đâu
mủi khoan luôn luôn ở trong đầu
nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
giật mình tính dậy :khoan vào đâu

Em ứ lấy chồng cầu thủ đâu!
Trái banh luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"đá vào đâu?"

Em ứ lấy chồng cơ thủ đâu!
Cây cơ luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"thọc vào đâu?"

em ứ láy chồng dược sĩ đâu
thuốn men luôn luôn ơ trong đầu
nữa đêm hai đứa đang ngon giấc
dzật mình tĩnh dzậy " uống thuốc mau "

Em ứ lấy chồng tài xế đâu!
Xe cộ luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"chạy vào đâu?"

Em ứ lấy chồng bợm nhậu đâu!
Rượu bia luôn luôn ở trong đầu,
Nửa đêm hai đứa đang ngon giấc
Dzật mình tỉnh dậy:"một chai mau"


SAO ANH NGỐC THẾ!

Em bảo anh đi đi
Sao anh không dừng lại
Em bảo anh đừng đợi.
Sao anh lại bỏ đi.

Lời nói thoảng gió bay.
Đôi mắt huyền đẫm lệ.
Sao mà anh ngốc thế.
Không nhìn vào mắt em




Biển

Puskin

Tôi chưa ra biển bao giờ
Ngỡ biển xanh, xanh màu im lặng
Tôi chưa yêu bao giờ
Ngỡ tình yêu là ảo mộng

Ngày nay tôi đã ra biển rồi
Biển nhiều sóng to, gió lớn
Ngày nay tôi đã yêu rồi
Tình yêu nhiều khổ đau - cay đắng

Không gió lớn, sóng to không là biển
Chẳng nhiều cay đắng, chắng là yêu...





Hình tam giác muôn đời.

Trên con đường tôi đi
Có hai người đi tới
Một người rất yêu tôi
Còn tôi yêu người khác

Người sống trong khao khát
Trong những giấc mơ tôi
Người kia đứng sững sờ
Trước cửa lòng khép chặt

Người cho tôi hạnh phúc
Luôn như gió vội bay
Người dâng tôi cả đời
Không được gì đền đáp

Người bắt máu tôi hát
Tình phóng khoáng trắng trong
Người như cuộc đời thường
Bóp mộng lòng tôi nát

Hai người đó trên đường
Phụ nữ nào cũng gặp
Trăm năm chỉ một lần
Họ được trùng làm một.









-Thanh cha thanh mẹ thanh dì,
Nếu có phong bì thì sẽ thanh kiêu (thank you)

-Thanh cha thanh mẹ thanh dì,
Không có phong bì thì lại thanh tra.


Lời vàng của sếp.

Bây giờ ghế ít đít nhiều
Chúng mày hãy nhớ những điều sau đây
Ăn chia là việc của tao,
Việc nghĩ, việc viết, thôi giao chúng mày.
Việc tao ngồi ký suốt ngày,
Thực thi công việc, chúng mày thay tao.
Việc tao là hưởng lộc cao,
Công lên việc xuống lại giao chúng mày.
Ví dụ:
Uống rượu là việc của tao
Còn khiêng, bưng rót, thôi giao chúng mày
Nhậu nhẹt là việc của tao
Còn khâu thanh toán, thôi giao chúng mày
Ăn ốc là việc của tao
Còn khâu đổ vỏ, thôi giao chúng mày
Báo cáo thành tích để tao
Còn nhận khuyết điểm lại giao chúng mày

Giao du khắp thể gian này,
Mở rộng tầm mắt, việc này phần tao.
TRèo đèo lội suối gian lao,
Tính toán rất kỹ, thôi giao chúng mày.
Lại đây tao bảo cái này,
Tao cấm chúng mày nghĩ chuyện chống tao.
Chống tao, tao chẳng làm sao,
Nhưng mày nghĩ bậy, thì tao trị mày.
Trời cao, biển rộng, đất dày,
Tao đố chúng mày thoát khỏi tay tao.
Trên trời muôn vạn vì sao
Đố ai đo được lòng tao với mày.




Kính thưa, kính biếu, kính mời
Trong ba kính ấy bác xơi kính nào.
Kinh thưa là kính tầm phào
Kính biếu là kính đưa vào tận tay
Kính mời là kính ăn ngay
Kính lão đắc thọ ngày nay không dùng.

Hà Nội thì lắm thằng điên
Trong túi đầy tiền lại nói rằng không
Suốt ngày chỉ chạy lông bông
Nói như thánh tướng nhưng không làm gì
Chỉ được cái giỏi sức ì
Bao nhiêu nghị quyết, nghị gì cũng thông

Miền Trung có lắm thằng khôn
Nó đi cửa trước nó luồn cửa sau
Nghị quyết thì thuộc làu làu
Nhưng chỉ áp dụng những câu nó cần

Miền Nam thì lắm thằng sang
Nó ăn như phá, nó làm như điên
Trong túi nó có đồng tiền
Vừa cưới chị một tính liền chị hai
Suốt ngày thích nhậu lai rai
Có một nghị quyết học hoài chẳng thông


Một điều quan trọng là tìm một người phụ nữ biết nấu ăn, chăm sóc con cái.

"Làm trai cho đáng nên trai
Lang beng cũng trải giang mai cũng từng!!!"



Việt Nam là một đất nước nhỏ.
Trong đất nước rất nhỏ đó có một cái thủ đô rất to.
Trong cái thủ đô rất to có những con đường rất nhỏ.
Trên những con đường rất nhỏ lại có những ngôi biệt thự rất to.
Trong những ngôi biệt thự rất to có những cô vợ nhỏ.
Những cô vợ nhỏ là của các ông quan to.
Các ông quan to xách những cái cặp rất nhỏ,
Trong những cái cặp rất nhỏ có những dự án rất to.
Những dự án rất to nhưng hiệu quả lại rất nhỏ.
Hiệu quả rất nhỏ nhưng thất thoát thì rất to.
Thất thoát thì rất to nhưng trách nhiệm thì rất nhỏ.

Đêm nay bác không ngủ
Ngày mai bác ngủ bù
Anh đội viên gật gù
Ồ sao bác tài thế!

Bác lấy trên đầu tủ
Một bộ bài mới toanh
Bày ra giữa chiếu manh
Bác cháu ta cùng đánh

Anh đội viên chóng vánh
Đã thua sạch cả tiền
Nhưng anh vẫn còn ghiền
Nên gật đầu chơi tiếp

Hối hận vẫn không kịp
Vì bác quá cao tay
Bài năm con đầm tây
Bác ăn luôn cả thảy



Anh đội viên nóng nảy
Sao bác quá ăn gian
Tiền cháu kiếm gian nan
Mà bác ăn tài thế!!!

Anh đội viên chụp ghế
Định kiếm chuyện ăn thua
Bác xuống nước phân bua
Vậy chúng ta chơi lại

Anh đội viên nghi ngại
Chơi nữa lại thua sao
Bác sức yếu tài cao
Làm sao ta địch nổi

Bác xem ra biết lỗi
Móc túi lấy năm ngàn
Cầm lấy đừng phàn nàn
Ngày mai ta chơi tiếp

Anh đội viên từ biệt
Định bụng leo lên giường
Nhưng anh muốn tỏ tường
Bác ơi....hic hic....tờ này rách!!!!

Anh đội viên bộc bạch
Bác cho cháu đổi đi
Bác tính toán làm chi
Dù gì bác cũng thắng

Sau một hồi trầm lặng
Bác suy nghĩ đã thông
Nhưng bụng tức cành hông
Đưa đây....tao đổi lại

Lần thứ ba thức dậy
Anh hốt hoảng giật mình
Bác vẫn ngồi đinh ninh
Bàn tay nhanh thoăn thoắt

Anh đội viên rình rập
Xem bác đang làm gì
Anh nghĩ thấy cũng kỳ
Vì chuyện riêng của bác

Nhưng không thể làm khác
Vì anh quá tò mò
Anh bèn xuống thăm dò
Xem thực hư sự việc

Bên kia giường cá biệt
Bác đang rất miệt mài
Bộ dạng rất khoan thai
Thì ra......
Bác đang dán tiền rách!!!!!!

Lòng bác sao trong sạch
Anh đội viên nhủ thầm
Và trong tận thâm tâm
Anh một lòng ngưỡng mộ

Yêu anh mấy núi cũng trèo
Mấy sông cũng lội thấy anh nghèo..lại thôi

Ta về ta tắm ao ta
Sảy chân chết đuối có người nhà vớt lên

Bình tĩnh tự tin không cay cú
Âm thầm chịu đựng trả thù sau.

Người đi một nửa hồn tôi mất!!
Một nửa hồn kia ...... sửa lại xài

Nắng mưa là chuyện do trời
Cúp cua là chuyện ở đơì học sinh
Cúp cua đừng cúp một mình
Rủ thêm vài đứa tâm tình cho vui

Thơ về Biển số xe các tỉnh thành Việt Nam *
Cao Bằng 11 chẳng sai,
Lạng Sơn Tây Bắc 12 cận kề.
98 Hà Bắc mời về,
Quảng Ninh 14 bốn bề là Than.
15 , 16 cùng mang.
Hải Phòng dất Bắc chứa chan nghĩa tình.
17 vùng dất Thái Bình.
18 Nam Ðịnh quê mình dẹp xinh.
Phú Thọ 19 Thành Kinh Lạc Hồng.
Thái Nguyên Sunfat, gang, đồng,
Đôi mươi ( 20 ) dễ nhớ trong lòng chúng ta .
Yên Bái 21 ghé qua.
Tuyên Quang Tây Bắc số là 22
Hà Giang rồi đến Lào Cai,
23 , 24 sánh vai láng giềng .
Lai Châu , Sơn La vùng biên,( giới )
25 , 26 số liền kề nhau.
27 lịch sử khắc sâu,
Đánh tan xâm lược công đầu Điện Biên.
28 Hòa Bình ấm êm,
29 Hà Nội liền liền 32.
33 là đất Hà Tây.
Tiếp theo 34 đất này Hải Dương.
Ninh Bình vùng đất thân thương,
35 là số di dường cho dân.
Thanh Hóa 36 cũng gần.
37, 38 tình thân,
Nghậ An, Hà Tĩnh ta cần khắc ghi.
43 Ðà Nẵng khó gì.
47 Ðắc Lắc trường kỳ Tây Nguyên.
Lâm Ðồng 49 thần tiên.
50 Thành Phố tiếp gần sáu mươi.( TPHCM 50 - 59 )
Đồng Nai số 6 lần 10 ( 60 ).
Bình Dương 61 tách rời tỉnh xưa. (Tách ra từ Sông Bé)
62 là dất không xa,
Long An B?n Lức khúc ca lúa vàng.
63 màu mỡ Tiền Giang.
Vĩnh Long 64 ngày càng đẹp tươi.
Cần Thơ lúa gạo xin mời.
65 là số của người Cần Thơ.
Đồng Tháp 66 trước giờ.
67 kế tiếp là bờ An Giang.
68 biên giới Kiên Giang
Cà Mau 69 rộn ràng U Minh.
70 là số Tây Ninh.
Xứ dừa 71 yên bình Bến Tre.
72 Vũng Tàu số xe.
73 Xứ QUẢNG vùng quê thanh BÌNH ( Quảng Bình ).
74 Quảng Trị nghĩa tình.
Cố đô nước Việt Nam mình 75.
76 Quảng Ngãi đến thăm.
Bình Ðịnh 77 âm thầm vùng lên.
78 biển số Phú Yên.
Khánh Hòa 79 núi liền biển xanh.
81 rừng núi vây quanh.
Gia Lai phố núi, thị thành Playku.
Kon tum năm tháng mây mù,
82 dễ nhờ mặc dù mới ra.( tách ra của GiaLai_Kontum )
Sóc Trăng có số .
84 kế đó chính là Trà Vinh.
85 Ninh Thuận hữu tình.
86 Bình Thuận yên bình gần bên.
Vĩnh Phúc 88 vùng lên.
Hưng Yên 89 nhơ tên nhãn lồng.
Quãng Nam đất thép thành đồng,
92 số mới tiếp vòng thời gian.
93 dất mới khai hoang,
Chính là Bình Phước bạt ngàn cao su.
Bạc Liêu mang sô 94.
Bắc Kạn 97 có từ rất lâu .
Bắc Giang 98 vùng sâu.
Bắc Ninh 99 những câu Quan, hò.

Biển xe các cơ quan thuộc Bộ Quốc Phòng

Kí hiệu Cơ quan áp dụng
AT Binh đoàn 12
AD Quân đoàn 4, Binh đoàn Cửu Long
BB Bộ binh
BH Binh chủng hóa học
BS Binh đoàn Trường Sơn
BT Binh chủng thông tin liên lạc
BP Bộ tư lệnh biên phòng
HB Học viện lục quân
HH Học viện quân y
KA Quân khu 1
KB Quân khu 2
KC Quân khu 3
KD Quân khu 4
KV Quân khu 5
KP Quân khu 7
KK Quân khu 9
PP Các quân y viện
QH Quân chủng hải quân
QA Quân chủng phòng không không quân
TC Tổng cục chính trị
TH Tổng cục hậu cần
TK Tổng cục công nghiệp quốc phòng
TT Tổng cục kỹ thuật
TM Bộ tổng tham mưu
VT Tổng công ty viễn thông quân đội (Viettel)

Biển số 80 - Các cơ quan sau áp dụng:

Các Ban của Trung ương Đảng
Văn phòng Chủ tịch nước
Văn phòng Quốc hội
Văn phòng Chính phủ
Bộ Công an
Xe phục vụ các uỷ viên Trung ương Đảng công tác tại Hà Nội và các thành viên Chính phủ
Bộ Ngoại giao
Viện kiểm soát nhân dân tối cao
Toà án nhân dân tối cao
Đài truyền hình Việt Nam
Đài tiếng nói Việt Nam
Thông tấn xã Việt Nam
Báo nhân dân
Thanh tra Nhà nước
Học viện Chính trị quốc gia
Bảo tàng, khu Di tích lịch sử Hồ Chí Minh
Trung tâm lưu trữ quốc gia
Uỷ ban Dân số kế hoạch hoá gia đình
Tổng công ty Dầu khí Việt Nam
Các đại sứ quán, tổ chức quốc tế và nhân viên
Người nước ngoài
Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước
Cục Hàng không dân dụng Việt Nam
Kiểm toán nhà nước


Biển đặc biệt

Biển dành cho người nước ngoài: ký hiệu NN (nước ngoài) hoặc NG (ngoại giao) (phải có sự đồng ý của các cán bộ cao cấp nhất của Việt Nam và được sự đồng ý của Đại Sứ quán nước đó) và dãy số:

Hai chữ số đầu: thể hiện địa điểm đăng ký (tỉnh/thành)

Ba chữ số tiếp theo: mã nước (quốc tịch người đăng ký) (011 Anh, 026 Ấn Độ, 041 Angiery, 061 Bỉ, 066 Ba Lan, 121 Cu ba, 156 Canada, 166 Cambodia, 191 Đức, 206 Đan Mạch, 296 và 297 Mỹ, 301 Hà Lan, 331 Italia, 336 Ixrael, 346 Lào, 364 Áo, 376 Miến điện, 381 Mông Cổ, 441 Nga, 446 Nhật, 456 New Zealand, 501 Úc ,506 Pháp, 521 Phần Lan, 546 547 548 549 Các ổ chức Phi Chính Phủ, 566 CH Séc, 581 Thụy Điển, 601 Trung Quốc, 606 Thái Lan, 626 Thụy Sỹ, 631 Bắc Hàn, 636 Hàn quốc, 691 Singapore, 731 Slovakia, 888 Đài Loan).

Ba chữ số khác ở bên dưới : số thứ tự đăng ký.

Các biển A: xe của Công an, Cảnh sát tương ứng với các tỉnh thành, ví dụ: 50A tức là xe của Công an, Cảnh sát thành phố Hồ Chí Minh.

Biển đỏ của Bộ Quốc Phòng

AT ... Binh đoàn 12
AD ... Quân đoàn 4 , Binh đoàn cửu long
BC ... Binh chủng Công Binh
BH ... Binh chủng hoá học
BT ... Binh chủng thông tin liên lạc
BP .... Bộ tư lệnh biên phòng
HB ... Học viện lục quân
HH ...Học viện quân y
KA .. Quân khu 1
KB ... Quân khu 2
KC ... Quân khu 3
KD ... Quân khu 4
KV ... Quân khu 5
KP ... Quân khu 7
KK ... Quân khu 9
PP... các quân y viện
QH ... Quân chủng hải quân
QK , QP ... Quân chủng phòng không không quân
TC ... Tổng cục chính trị
TH ... tổng cục hậu cần
TK .... Tổng cục công nghiệp quốc phòng
TT ... Tổng cục kỹ thuật
TM ... Bộ tổng tham mưu

Tại Thành phố Hồ Chí Minh

Chữ cái trên biển số cho biết quận/huyện đăng ký:
Quận 1 là T;
Quận 2, Quận 9, Thủ Đức: X ;
Quận 3: F;
Quận 4, Quận 7, Nhà Bè: Z,
Quận 5: H;
Quận 6: K;
Quận 8: L;
Quận 10: U;
Quận 11: M;
Quận Bình Tân, Bình Chánh: N;
Quận 12, Hóc Môn, Củ Chi: Y;
Quận Tân Bình: P;
Quận Bình Thạnh: S,
Quận Gò Vấp: V,
Quận Phú Nhuận: R.
Địch và ta

Vợ là địch, bồ là ta,
Đi đám cưới, đám ma... thì ta đi với địch,
Đi du lịch, tham quan... thì ta đi với ta.
Chiến sự xảy ra, ta về với địch.
Nằm trong lòng địch, ta nhớ về ta.

Chồng như cây cột trong nhà
Để trong thì vướng, bỏ ra hỏng tường
Chồng như hàng hóa thị trường
Lúc thì cần gấp, lúc vương vất hoài

Chồng như cây cảnh trong nhà
Hớ hênh một chút ắt là bị chôm
Chồng tựa như một quả bom
Bảo quản không khéo nổ om cả làng

Ai trên đời chả có vợ
Vợ là nợ đời ta
Vợ là nỗi oan gia
Ta đừng nên có vợ
Nhưng mà ta cóc sợ
Vợ là vợ mà ta là ta.

Về mặt triết học: Vợ là một thực thể độc lập tồn tại bên ngoài ta, ngoài ý muốn của ta.

Về mặt kinh tế: Vợ là ngân hàng vô luật pháp, không thể lệ: gửi vào thì dễ, rút ra thì khó mà không thể kiện cáo gì được.


Về mặt tài sản: Vợ là cái gì rất cũ mà không thể thanh lý được.


Về mặt xã hội: Vợ là cá nhân tự do, tình nguyện về chung sống với ta nhưng lại luôn tố cáo ta làm mất tự do của cô ấy, và nếu như ta trả lại thì lại không nhận.


Về mặt cổ học: Vợ là loại đồ cổ càng để lâu càng mất giá.

Về mặt sinh học: Vợ đáng sợ hơn mãnh thú, vì họ là sư tử
Yêu người cùng quê: Niềm tự hào của bia nội.
# Tìm hiểu trước ngày cưới: Đọc kỹ huớng dẫn sử dụng trước khi dùng.
# Mong ước của chàng trai đối với vợ sắp cưới: chất lượng ngoại giá nội
# Mong ước của cô gái đối với người bạn đời:Nip-bông sơn đâu cũng đẹp
# Ngày cưới: biến giấc mơ thành hiện thực
# Sau tuân trăng mật: điểm 10 cho chất lượng
# Quan hệ thông gia: đã tốt nay còn tốt hơn
# Bạn đời lý tưởng:Mãi mãi với thời gian
# Thuật nịnh vợ: một phần tất yếu của cuộc sống.

Chỉ có tiền mới hiểu
Bồ thương ta nhường nào,
Chỉ có vợ mới biết
Tiền lương ta là bao.
Những ngày chưa kịp khao,
Bồ dạt dào thương nhớ.
Những lần lương bị hao,
Lòng vợ đau - rạn vỡ.
Nếu từ giã tiền rồi,
Bồ cũng bay theo gió.
Nếu phải cách xa lương
Vợ chỉ còn bão tố.

Cơm khoe: tớ nhất trên đời

Phở rằng: tớ cũng tuyệt vời đấy nha!

Cơm là từ gạo mà ra

Phở cũng từ gạo nhưng mà... ngon hơn.

Cơm nhờ hương gạo mà thơm

Phở nhiều "nguyên liệu" nên thơm đủ mùi

Cơm ăn no bụng là thôi

Phở vừa no, lại muốn đòi ăn thêm

Cơm ăn hàng bữa nên quen

Phở thì thỉnh thoảng nên thèm, đương nhiên.

Cơm ngon, chẳng lọ mất tiền

Phở "thiu", cũng phải bỏ tiền mà mua.

Cơm chân chất, chẳng đẩy đưa

Phở trang trí đẹp, dễ lừa mắt ai!

Cơm ngoan chẳng sợ tiếng tai

Phở tuy đẹp đẽ nhưng đầy hoài nghi

Cơm quen chẳng ngại ngần gì

Phở ăn dăm bữa tức thì ngán thôi

Phụ "cơm", chớ phụ người ơi!

Cho dù thua "phở", nhưng thời... an tâm.








THƠ VỀ NÔNG DÂN
Có một anh nông dân mới cưới vợ đã có việc phải đi xa.
Sau vài tháng, cô vợ gửi thư cho chồng, nội dung như sau:

"Đám ruộng hai bờ ở đầu hông
Lâu ngày không cấy vẫn để không
Nước non vẫn đủ, cỏ mọc tốt
Nhờ người cày hộ có được không?"

Ông chồng đọc xong trả lời:

"Đám ruộng hai bờ là của ông
Cho dù không cấy vẫn để không
Mùa này không cấy chờ mùa khác
Nhờ người cày hộ chết với ông"

Đọc thơ của ông chồng xong, vợ nóng lòng quá nên gởi thơ tiếp:

"Ruộng để lâu ngày cứ bỏ không
Hạ đi thu đến sắp lập đông
Cỏ xanh cũng lạnh dần héo úa
Thợ cày đầy rẫy chẳng tính công "

Ông chồng hồi đáp:
"Biết là ruộng lâu ngày trống không
Cỏ dại um tùm mọc mênh mông
Nhưng mà tụi nó cày tệ lắm
Kỹ thuật thua ông, có biết không ?"
Bà vợ rằng:
"Ruộng vẫn nơi này quá mênh mông
Sao chẳng gieo đi kiếm vài đồng
Ông về vẫn đó chi mà ngại
Mùa ông thu hoạch khỏi tốn công"

Chồng tiếp bực mình:

"Này này ông nói có nghe không
Ruộng ông, ông kệ cứ chơi ngông
Khi nào ông rảnh ông gieo giống
Còn không kẻ khác cấm cho trồng "

Bà vợ chịu không nổi... gửi tiếp :

"Ông à... cỏ dại lên quá mông
Dân cày quê mình cứ ở không
Thôi tui làm phước cho họ cấy
Ông về thu hoạch... thế là xong"

Ông chồng càng tức giận hơn:

"Cỏ dại có mọc lên quá mông
Thì bà vẫn cứ phải để không
Ông mà biết được bà cho cấy
Ông vể nhổ sạch thế là... xong"

Bà tiếp:

"Ruộng kia cỏ đã mọc đầy đồng
Ông về gấp gấp có nghe không?
Ruộng đang thiếu nước, lại khô cạn
Ông về tưới hộ tôi trả công!"

Chồng nghe thế liền gởi lại:

"Ừ thì bà ráng mà kiềm lòng
Bà mà léng phéng chết với ông
Ông về ông cấy cho tơi xốp
Cho thỏa bao ngày bà đợi mong"

Hôm sau, chồng nhận được thư vợ như sau:

"Luật mới ban hành ông biết không?
Ruộng mà không cấy sẽ sung công
Vậy ông thu xếp mà về sớm
Kẻo mất ruộng rồi, ông trách ông"



Bắc than Gầy thì Nam bảo Ốm
Bắc cáo Ốm, Nam khai Bịnh hay Ðau
Bắc Cuốc nhanh, Nam Ði bộ mau mau
Bắc bảo Muộn thì Nam cho là Trễ
Nam Mần sơ sơ Bắc Nàm lấy lệ
Bắc Lệ trào Nam Chảy nước mắt ra
Bắc nói Úi Chà, Nam kêu Ui Da
Bắc Bước vào kia, Nam Ði vô trỏng
Nam kêu Vạc Tre, Bắc là Cái Chõng
Nam Trả Treo, Bắc Lý Luận ngược xuôi
Nam biểu Vui Ghê, Bắc nói Buồn Cười
Bắc chỉ Thế Thôi, Nam là Vậy Ðó
Nam làm Giỏ Tre, Bắc đan cái Rọ
Nam Muỗng cà phê, Bắc gọi cái Thìa
Nam Muỗng canh, Bắc gọi cái Cùi dìa
Nam Ði tuốt, thì Bắc Lìa xa mãi
Nam Nói Dai, Bắc cho là Lải Nhải
Nam kêu Xe Hơi, Bắc gọi Ô Tô
Nam xài Dù, thì Bắc lại dùng Ô
Nam Ði trốn, Bắc cho là Lánh mặt
Nam la Hơi Mắc, Bắc là Khá Ðắt
Nam Mần Ăn, thì Bắc cũng Kinh Doanh
Nam Chối Lòng Vòng, Bắc bảo Dối Quanh
Nam biểu Từ Từ, Bắc khuyên Gượm lại
Nam Ngu Ghê, còn Bắc là Quá Dại
Nam Sợ Ghê, Bắc thì Hãi Quá đi
Nam Nói Gì ? Bắc hỏi Dạ bảo chi
Nam kêu Trúng Lắm, Bắc bàn Chí Phải

Bắc gọi Thích ghê, Nam kêu là Khoái
Bắp Nam kêu hái, Bắc bảo Vặt Ngô
Bắc thích cứ Vồ, Nam ưng là Chụp
Nam rờ Bông Bụp, Bắc vuốt Tường Vi
Nam nói: mày đi ! Bắc rên: cút xéo
Bắc bảo: cứ véo ! Nam: ngắt nó đị
Bắc gửi phong bì, bao thơ Nam gói
Nam kêu: muốn ói, Bắc bảo: buồn nôn !
Bắc nói tiền đồn, Nam kêu chòi gác
Bắc nói khoác lác, Nam bảo xạo ke
Mưa đến Nam che, gió ngang Bắc chắn
Bắc khen giỏi mắng, Nam nói chửi hay
Bắc nấu thịt cầy, Nam chê thịt chó
Bắc vén búi tó, Nam bới tóc lên
Anh Cả Bắc quên, anh Hai Nam lú
Nam: ăn đi chú, Bắc: mời anh xơi !
Bắc mới tập bơi, Nam thời đi lội
Bắc đi phó hội, Nam tới chia vui
Bắc kéo xe lôi, xích lô Nam đạp
Bắc bảo cao to Nam cho là lớn
Ðùa mà không thật, Bắc bảo là điêu
Giỡn hớt đã nhiều, Nam kêu là xạo
Nam thời mập bạo, Bắc bảo béo ghê
Bắc bảo sướng phê, Nam rên đã quá !
Bắc hay đi phá Bắc đả bằng gươm
Nam chọc bị lườm, kiếm Nam, Nam thọt
Bắc uống bia bọt, Nam nhậu lade
Bắc bùi bùi lạc rang, Nam thơm thơm đậu phụng
Nam tròm trèm ăn vụng, Bắc len lén ăn vèn
Nam toe toét "hổng chịu đèn", Bắc vặn mình "em chả"
Bắc giấm chua "cái ả", Nam bặm trợn "con kia"
Nam chửi "tên cà chua", Bắc rủa "đồ phải gió"
Nam nhậu nhẹt thịt chó, Bắc đánh chén cầy tơ
Bắc vờ vịt lá mơ, Nam thẳng thừng lá thúi địt !



Nam kêu Ba Má
Bắc gọi Bố Mẹ
Bắc Bảo Thấp Nến
Nam Đốt Đèn Cầy
Nam Chịu Như Vầy
Bắc Ưng Thế Đấy
Nam Chê Ba Phải
Bắc Chẳng Lập Trường
Nam Kêu Tên Đường
Bắc Bảo Là Phố
Nam Đón Xe Cộ
Bắc Đáp Ô Tô
Bắc thích Xơi ngô
Nam khoái ăn bắp
Nam chê ốm mập
Bắc quở béo gầy
Vườn Nam trái cây
Bắc là hoa hỏa
Nam kêu phải dạ
Bắc gọi phải vâng
Nam coi múa lân
Bắc múa sư tử
Nam Xếp bao thơ
Bắc gấp phong bì
Trong Nam Chén Ly
Ngoài Bắc bát cốc
Bắc bằng gổ mộc
Nam nói bằng Cây
Nam nể anh hai
Bắc sợ anh Cả
Bắc bực ăn vạ
Nam ghét làm tiền
Nam bơm bánh xe
Bắc vá vỏ lốp
Bắc mặc áo cộc
Nam bận áo thung
Bắc nấu rọc mùng
Bạch hà nam gọi .

ĐỀ THI TTDS THAM KHAO 3

1. Mọi tranh chấp về kinh doanh thương mại đều thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án dân sự.
2. Không phải mọi tranh chấp giữa các thành viên công ty, giữa thành viên công ty với công ty với nhau đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dân sự.
3. Chủ thể tiến hành tố tụng dân sự là những người có quyền tham gia, giải quyết vụ việc dân sự.
4. Trong một số trường hợp Tòa án có quyền quyết định áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.
5. Trong một số trường hợp nếu đương sự được Tòa án cấp sơ thẩm triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn không đến thì phải hoãn phiên toà.
6. Thẩm phán có quyền ra quyết định áp dụng thủ tục giám định.


Bài tập:


Anh A kiện đòi nhà cho thuê của anh B. Tòa án sơ thẩm tuyên anh B phải trả lại nhà cho anh A. Anh B kháng cáo kiện lên cấp phúc thẩm. Anh chị hãy cho biết Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ giải quyết như thế nào nếu:
1. Tại phiên tòa phúc thẩm anh A và Anh B thỏa thuận được với nhau là anh B sẽ trả nhà cho anh A vào ngày 09/01/2009?
2. Trong quá trình xét xử phúc thẩm, anh A bị chết và ko có người thừa kế tài sản.

. Câu hỏi trắc nghiệm - Đúng, sai, giải thích
a. Trong 1 số trường hợp, mặc dù sự việc được TA giải quyết bằng bản án có Hiệu lực pháp luật nhưng tòa án vẫn có thể thụ lý giải quyết mà không phải trả lại đơn khởi kiện cho đương sự
b. Trong mọi trường hợp, người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải gửi một khoản tiền do tòa án ấn định tương đương với nghĩa vụ tài sản mà người có nghĩa vụ phải thực hiện (hình như thế)
c. Trong một số trường hợp, tòa án có thể thụ lý vụ án khi nhận đơợc đơn khởi kiện và tài liệu chứng cứ kèm theo.

2. A kiện B yêu cầu thực hiện hợp đồng mua bán nhà giao kết giữa A và B. TA sơ thẩm hòa giải việc tranh chấp thì A, B thỏa thuận được về việc giải quyết HĐ nhưng không thỏa thuận được với nhau về án phí dân sự sơ thẩm.
Trong trường hợp này TA cấp sơ thẩm phải đưa vụ án ra XXST để giải quyết vấn đề án phí hay ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa các bên đương sự. Tại sao?

3. So sánh quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm và Hội đồng tái thẩm.

Câu 1: 14 câu Trắc nghiệm đúng sai ko phải giải thích
1, LTTDS chỉ điều chỉnh quan hệ giữa Toà án, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án, người tham gia TTDS bằng phương pháp mệnh lệnh.
2, Thẩm phán ra quyết định trưng càu giám định trên cơ sở thoả thuận lựa chọn của các đương sự hoặc theo yêu cầu của một trong các bên đương sự
3, Thẩm phán phải từ chối tiến hành tố tụng hoặc bị thay đổi nếu là người thân thích của người đại diện đương sự
4, Trong mọi trường hợp, nếu tranh chấp không liên quan đến bất động sản đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nơi bị đơn cư trú, làm việc
5, Toà án có thể tự mình đối chất khi có sự mâu thuẫn lời khai
6, Người chưa thành niên có thể tự mình tham gia tố tụng khi xét thấy cần thiết
7, Sau khi thụ lý vụ án nếu phát hiện vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết cuả Toà án khác theo lãnh thổ thì Toà án đã thụ lý vụ án phải chuyển hồ sơ vụ án và xoá sổ thụ lý
8, Toà án đã thụ lý vụ án phải ra quyết định đình chỉ vụ án nếu có Toà án khác thụ lý đơn yêu cầu mở thụ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mà việc giải quyết vụ án có liên quan đến doanh nghiệp, hợp tác xã
9, Mọi tranh chấp có tài sản hoặc đương sự ở nước ngoài đều thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cấp tỉnh
10, Thành viên Hội đồng xét xử có ý kiến thiểu số không có nghĩa vụ phải ghi ý kiến bằng văn bản riêng và đưa vào hồ sơ vụ án....
Câu 2: Bài tập
A, B có tranh chấp. Ngày...Thẩm phán tiến hành hoà giải, các bên thoả thuận đựoc về toàn bộ nội dung tranh chấp, kể cả án phí
1. Toà án phải thực hiện thủ tục tố tụng nào
2. Nếu trong quá trinh fgiải quyết vụ án, A chết, Toà án phải thực hiện những thủ tục tố tụng nào

________________________________________


ĐỀ THI TUYỂN SINH LỚP ĐÀO TẠO NGHIỆP VỤ LUẬT SƯ
(DÀNH CHO LỰC LƯỢNG PA25 CÔNG AN HÀ NỘI)
Môn thi: Pháp luật dân sự và tố tụng dân sự
Thời gian làm bài: 180 phút
Ngày thi: 16/04/2006

Ông Đào Xuân Hòe và vợ chồng anh Bùi Văn Cương và Ma Thị Minh Hà là hàng xóm. Chị Hà và anh Cương làm nghề lao động tự do, có đặt vấn đề vay tiền của ông Hòe. Ngày 4/3/2005, anh Cương viết một “Giấy vay tiền”, nội dung như sau:

“Tôi tên là Bùi Văn Cương, sinh ngày 12/08/1979, quê quán huyện G, tỉnh N..., cùng vợ là Ma Thị Minh Hà. Hiện hai vợ chồng tôi cùng cư trú tại số 94, ngõ 102, quận Đ. Hà Nội.

Hôm nay chúng tôi cùng nhất trí viết giấy vay tiền ông Đào Xuân Hòe, sinh năm 1939, cư trú tại số 45, ngõ 102, quận Đ. Hà Nội, tổng số tiền hai vợ chồng chúng tôi xin vay là 42.000.000 đồng (bốn hai triệu đồng chẵn). Lãi suất vay là 30.000 đ/1 triệu/1tháng. Tổng số tiền lãi hàng tháng là 1.260.000 đồng. Ngày trả lãi là ngày 25 hàng tháng.

Số tiền hai vợ chồng tôi xin vay ông Đào Xuân Hòe là ba tháng, kể từ ngày 4/3/2005. Hai bên cùng thỏa thuận nhất trí với ý kiến trên.
Chúng tôi xin cam đoan những lời hứa trên, nếu có gì sai trái tôi xin chịu trách nhiệm.

Ngoài khoản này chúng tôi không còn khoản nào nợ ông Hòe”

Cuối Giấy vay tiền là chữ ký của người viết đơn là anh Bùi Văn Cương và Ma Thị Minh Hà, chữ ký của người cho vay là ông Đào Xuân Hòe.

Câu hỏi 1: Căn cứ những quy định của Bộ luật dân sự, hãy cho biết quan hệ giữa ông Hòe và vợ chồng anh Cương, chị Hà là quan hệ gì?

Tình tiết bổ sung:
Sau khi vay tiền, vợ chồng anh Cương, chị Hà có trả tiền lãi hàng tháng cho ông Hòe theo đúng thỏa thuận. Số tiền lãi hàng tháng là 1.260.000 đồng. Tổng số tiền lãi ba tháng, vợ chồng anh Cương đã trả cho ông Hòe là 3.780.000 đồng.
Được biết trong thời gian này, ngân hàng nhà nước quy định các mức lãi cơ bản như sau;
- Lãi suất tiết kiệm là 0,6%/tháng;
- Lãi suất cho vay ngắn hạn là 0,75%/tháng;
- Lãi suất cho vay trung hạn là 0,72%/tháng.

Câu hỏi 2: Hãy cho biết, việc trả lãi của vợ chồng anh Cương cho ông Hòe có đúng quy định của pháp luật hay không?

Tình tiết bổ sung:
Đến hạn trả nợ, vợ chồng anh Cương đề nghị ông Hòe ra thêm hạn một tháng nữa để vợ chồng anh thu xếp công việc. Vợ chồng anh Cương cũng đề nghị được trả lãi với mức 3%/ tháng như đã thỏa thuận trước đây. Ông Hòe đồng ý.
Đến hạn trả lãi (ngày 25), không thấy vợ chồng anh Cương trả lãi, ông Hòe có yêu cầu vợ chồng anh Cương sang gặp nhưng hẹn mãi không thấy sang. Đến hạn trả nợ (ngày 4/7), vợ chồng anh Cương sang gặp ông Hòe và trình bày, do có khó khăn trong làm ăn nên xin ông Hòe một thời gian nữa thì vợ chồng anh Cương mới có thể thu xếp được tiền cả gốc và lãi trả cho ông Hòe. Ông Hòe không đồng ý gia hạn và yêu cầu vợ chồng anh Cương phải thu xếp trả nợ. Ông Hòe đã tìm cách gặp vợ chồng anh Cương, có lần gặp được trực tiếp tại nhà anh Cương, nhưng cũng có nhiều lần đến nhà anh Cương, ông Hòe chỉ gặp mẹ vợ anh Cương là bà Lý. Ông Hòe có viết giấy nhắn để lại cho vợ chồng anh Cương, yêu cầu phải thanh toán ngay số nợ gốc cũng như số tiền lãi như đã thỏa thuận. Tuy nhiên, đã hết năm 2005 mà vợ chồng anh Cương vẫn chưa trả được nợ cho ông Hòe. Sự việc buộc ông Hòe quyết định khởi kiện ra Tòa án.

Câu hỏi 3: Xác định Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án đòi nợ của ông Hòe.

Câu hỏi 4: Căn cứ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, hãy cho biết đơn kiện của ông Hòe phải gửi kèm theo những giấy tờ, tài liệu nào?

Tình tiết bổ sung:
Thời điểm ông Hòe khởi kiện là tháng 2/2006, thời điểm Bộ luật dân sự năm 2005 có hiệu lực pháp luật (Bộ luật dân sự năm 2005 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/6/2005, được Chủ tịch nước công bố ngày 27/6/2005, có hiệu lực từ 1/1/2006).
Có ý kiến cho rằng vụ án của ông Hòe được giải quyết theo Bộ luật dân sự năm 1995; có ý kiến lại cho rằng vụ án của ông Hòe được giải quyết theo Bộ luật dân sự năm 2005.

Câu hỏi 5: Ý kiến của anh, chị về vấn đề trên.

Tình tiết bổ sung:
Lời khai chị Hà thừa nhận có khoản nợ ông Hòe số tiền 42.000.000 đồng đúng như ông Hòe đã trình bày. Tuy nhiên việc vay tiền làm gì và đã dùng số tiền ra sao thì chị Hà không biết cụ thể mà toàn bộ là do anh Cương sử dụng. Khi đi vay tiền, theo yêu cầu của ông Hòe, anh Cương đưa chị Hà đi cùng để cùng ký vào giấy vay nợ. Sau khi nhận được tiền từ ông Hòe, anh Cương đã đưa toàn bộ số tiền này đi làm ăn. Chị Hà không được cầm tiền và cũng không được sử dụng số tiền đó. Hiện tại anh Cương đang đi làm ăn xa. Theo ý kiến chị Hà thì chị không có khả năng trả nợ cũng như không có trách nhiệm trả nợ mà anh Cương phải có trách nhiệm trả nợ cho ông Hòe.

Câu hỏi 6: Anh, chị có đồng ý với ý kiến của chị Hà hay không?

Tình tiết bổ sung:
Về anh Cương, anh có một “Đơn xin vắng mặt” gửi Tòa án. Trong đơn, anh Cương thừa nhận “vợ chồng tôi có vay của ông Đào Xuân Hòe với số tiền là 42.000.000 đồng (bốn hai triệu đồng). Do điều kiện còn quá khó khăn nên chưa thể trả cho ông Đào Xuân Hòe số tiền trên.
Nay ông Hòe có đơn kiện ra tòa về việc đòi lại tài sản. Vì điều kiện ở xa tôi không thể có mặt tại Tòa. Vậy tôi viết đơn này xin quý tòa cho phép tôi vắng mặt tại tòa trong thời gian diễn ra vụ kiện, kể cả ngày xét xử”.

Câu hỏi 7: Tòa án có thể giải quyết vắng mặt theo yêu cầu của anh Cương được hay không?

Tình tiết bổ sung:
Trong đơn khởi kiện của ông Hòe cũng như trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, ông Hòe giữ nguyên yêu cầu đòi toàn bộ số tiền nợ gốc, toàn bộ số tiền lãi chưa trả theo thỏa thuận là 3%/tháng. Ông Hòe cũng yêu cầu vợ chồng anh Cương phải trả toàn bộ nợ ngay một lần.
Tòa án mở phiên tòa sơ thẩm vào tháng 3 năm 2006.
Ông Hòe muốn mời luật sư tham gia tố tụng.

Câu hỏi 8: Theo quy định của pháp luật hiện hành, luật sư có thể tham gia tố tụng theo yêu cầu của ông Hòe với tư cách gì?

Câu hỏi 9: Trình bày hướng giải quyết vụ án.

(Thí sinh được phép sử dụng Bộ luật dân sự; Bộ luật tố tụng dân sự)

ề thi môn : Luật Tố Tụng Dân Sự 1 (Phần chung)
Khoa: Luật dân sự - Đại học Luật TP.HCM
Thời gian làm bài: 60 phút
Được sử dụng tài liệu

I. Lý thuyết (6 điểm)
Nhận định sau đây đúng hay sai? Tại sao? Nêu căn cứ pháp lý.
1. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ nếu phản đối yêu cầu của đương sự khác
2. Chánh án tòa án có quyền quyết định việc thay đổi người tiến hành tố tụng.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cũng phải nộp án phí khi yêu cầu của họ không được tòa án chấp nhận.
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người đại diện cho đương sự để tham gia tố tụng tại tòa án.
5. Đương sự có thể lựa chọn tòa án để yêu cầu giải quyết tranh chấp dân sự.
6. Bị đơn có quyền thay đổi và bổ sung yêu cầu trong vụ án.

II. Bài tập (4 điểm)
Trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng thuê nhà giữa chủ nhà là bà X và người thuê nhà là Cty Y về việc điều chỉnh giá thuê nhà theo HĐ (HĐ quy định sau mỗi năm gía thuê nhà sẽ điều chỉnh theo giá thị trường), Tòa án đã yêu cầu cơ quan hữu quan cho ý kiến về giá thuê nhà tại thời điểm gỉai quyết tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tòa án đồng thời cũng gửi công văn đến một số DN kinh doanh nhà ở yêu cầu cung cấp thông tin với nội dung tương tự.
Đại diện VKS tham gia phiên tòa sơ thẩm phản đối các hành vi tố tụng nêu trên của tòa án với lý do tòa án tiến hành thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên, các đương sự không có phản đối các hành vi nêu trên của tòa.
Anh (chị) nhận xét gì về hành vi tố tụng nêu trên của Tòa và nêu quan điểm, cơ sở pháp lý của mình về việc có chấp nhận những chứng cứ mà tòa đã thu thập nêu trên hay không.



LÝ THUYẾT
Nhận định đúng sai? Giải thích?
a. Tòa án phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm khi tòa án sơ thâm áp dụng không đúng pháp luật tố tụng?
b. Tòa án có quyền tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời?
c. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền đưa ra yêu cầu khi tham gia tố tụng.
d. Thủ tục phúc thẩm các quyết định sơ thẩm phải tuân thủ nguyên tắc xét xử trực tiếp, bằng lời nói và liên tục?
e. Nếu đương dự được triệu tâp tham gia phiên tòa giám đốc thẩm thì họ có quyền tham gia tranh luận?
f. Khi đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì họ phải thực hiện biện pháp bảo đảm?

2. Bài tập
Anh A và chị B xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp ngày 18/9/2003. Hai người chung sống hạnh phúc và có một con chung là M. Ngày 20/8/2008, do mâu thuẫn, anh A đã yêu cầu Tòa án Quận X cho ly hôn. Tòa án đã thụ lý vụ án và sau khi hòa giải không thành đã ra bản án cho anh A ly hôn với chị B. Tài sản chung anh A sở hữu một căn nhà, Chị B sở hữu một căn nhà và các tài sản khác. Cháu M chị B nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng.
Chị B đã kháng cáo về việc tòa án quận X cho chị ly hôn với anh A, nhưng đồng thời chị B cũng yêu cầu thi hành án quận X thi hành về tài sản mà chị được sở hữu theo bản án.
Có ý kiến cho rằng bản án nêu trên chưa có hiệu lực pháp luật toàn bộ nên yêu cầu thi hành án của chị B là không đúng, nhưng cũng có ý kiến cho rằng chị B yêu cầu thi hành án là đúng với quy định của pháp luật tố tụng.
Theo anh (chị) yêu cầu thi hành án của chị B là đúng hay sai? Tại sao?

Ề THI MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ - HP2
Thời gian: 60 Phút
Chỉ được sử dụng Bộ luật TTDS

1. LÝ THUYẾT
Nhận định đúng sai? Giải thích?
a. Đình chỉ là hình thức tòa án giải quyết vụ án dân sự.
b. Đương sự vắng mặt lần thứ 1 thì HĐXX sơ thẩm ra quyết định hoãn phiên tòa
c. Các tài liệu của vụ án phải được công khai tại phiên tòa.
d. Khi người kháng cáo chết thì tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm
e. Nếu kháng cáo, kháng nghị không có căn cứ thì HĐXX phúc thẩm giữ nguyên bản án , quyết định sơ thẩm
f. Phạm vi tái thẩm căn cứ vào nội dung kháng nghị của người có thẩm quyền

2. Bài tập
Anh A và chị B xác lập quan hệ hôn nhân hợp pháp ngày 18/9/2003. Hai người chung sống hạnh phúc và có một con chung là M. Ngày 20/8/2008, do mâu thuẫn, anh A đã yêu cầu Tòa án Quận X cho ly hôn. Tòa án đã thụ lý vụ án và sau khi hòa giải không thành đã ra bản án cho anh A ly hôn với chị B. Tài sản chung anh A sở hữu một căn nhà, Chị B sở hữu một căn nhà và các tài sản khác. Cháu M chị B nuôi và không yêu cầu cấp dưỡng.
Chị B đã kháng cáo về việc tòa án quận X cho chị ly hôn với anh A, nhưng đồng thời chị B cũng yêu cầu thi hành án quận X thi hành về tài sản mà chị được sở hữu theo bản án.
Có ý kiến cho rằng bản án nêu trên chưa có hiệu lực pháp luật toàn bộ nên yêu cầu thi hành án của chị B là không đúng, nhưng cũng có ý kiến cho rằng chị B yêu cầu thi hành án là đúng với quy định của pháp luật tố tụng.
Theo anh (chị) yêu cầu thi hành án của chị B là đúng hay sai? Tại sao?


LÝ THUYẾT
Nhận định đúng sai? Giải thích?
1. Nguyên đơn là người thực hiện hành vi khởi kiện.
2. Tòa án chỉ thụ lý đơn khởi kiện nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình.
3. Hòa giải chỉ được tiến hành trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm.
4. Hội đồng xét xử sơ thẩm có quyền hoãn phiên tòa để nghị án trong thời hạn 5 ngày làm việc.
5. Tòa phúc thẩm có quyền phúc thẩm bản án , quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án quận huyện bị kháng cáo, kháng nghị.
6. Chỉ có hội đồng xét xử giám đốc thẩm mới có quyền giữ nguyên bản án, quyết định đã bị hủy hoặc bị sửa.

II. BÀI TẬP ( 4 điểm)
Do việc chi Nguyễn Bích N. (cư trú tại thành phố Biên hòa tỉnh Đồng nai) thường xuyên nghỉ việc không lý do chính đáng nên công ty Dosen, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, trụ sở tại huyện X, tỉnh Đồng nai, đã quyết định kỷ luật chị N bằng hình thức sa thải. Chị N làm đơn khởi kiện yêu cầu tòa án nhân dân hủy quyết định kỷ luật trên với lý do ban lãnh đạo công ty đã không tiến hành phiên họp xét kỷ luật mà chỉ xin ý kiến các thành viên ban lãnh đạo thông qua phiếu thăm dò ý kiến, từ đó GĐ công ty là ông Kim đã ra quyết định kỷ luật chị N.

Hãy trả lời đúng sai và giải thích:
1. Tòa án huyện X có thẩm quyền giải quyết tranh chấp trên.
2. Đây là loại tranh chấp cần phải qua hòa giải cơ sở thì tòa án mới giải quyết.
3. Tòa án ra quyết định công nhận sự thỏa thuận giữa chị N và ông Kim vì 2 bên đạt được thoả thuận Công ty Dosen sẽ nhận chị N trở lại làm việc.

. Lý thuyết (6 điểm)
Trả lời đúng hoặc sai và giải thích các nhận định sau:
1. Tất cả các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đều được đưa ra thi hành án.
2. Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải làm đơn gởi đến tòa án yêu cầu giải quyết.
3. Chủ thể tiến hành tố tụng tại phiên tòa phúc thẩm giống Chủ thể tiến hành tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm
4. Chủ thể kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm có nghĩa vụ chứng minh.
5. Tại tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử có nghĩa vụ nghe lời trình bày của đương sự
6. Việc hòa giải trước khi mở phiên tòa sơ thẩm là nghĩa vụ của tòa án

II. Bài tập (4 điểm)
A cho B vay 1.000 usd, thời hạn vay là 05 tháng, có làm hợp đồng bằng giấy tay. Do B không trả theo thời hạn thỏa thuận, A đã kiện B tại tòa án quận X, thành phố H. Tại tòa án, B thừa nhận nghĩa vụ của mình nhưng đề nghị Tòa án cho B được trả số tiền trên trong thời hạn một năm. A không nhất trí và yêu cầu Tòa án buộc B phải trả một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Để các bên có phương hướng giải quyết tranh chấp, tòa án quận X đã tiến hành hòa giải về phương thức trả nợ giữa A, B và các bên đã thống nhất được là B trả A số tiền tương ứng 1.000usd trong thời hạn 03 tháng, kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật. Xét thấy các bên đã thống nhất được về việc giải quyết vụ việc, nên tòa án quận X đã lập biên bản hòa giải thành và sau 7 ngày kể từ ngày lập biên bản, các bên đương sự không thay đổi ý kiến nên tòa án quận X đã ra quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
Có ý kiến cho rằng tòa án quận X đã vi phạm pháp luật tố tụng về hòa giải. Ý kiến anh (chị)?

ĐỀ THI TTDS HP 1 lớp QT32A :thời gian 60p đc sử dụng tài liệu

A. Phần lý thuyết ( 6 điểm ) trả lời ngắn gọn

1. Vụ án dân sự có đương sự là Việt kiều thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Tỉnh thành phố trực thuộc trung ương.
2. Đương sự có quyền cung cấp chứng cứ trong mọi giai đoạn của quá trình tố tụng.
3. Đại diện ủy quyền của đương sự là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong vụ án đó.
4. Thư kí tòa án có thể lấy lời khai của đương sự theo sự ủy quyền của thẩm phán.
5. Hãy cho 1 ví dụ và phân tích rò nguyên tắc " Cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự" trong ví dụ đó.

B. Phần bài tập: 4 điểm

Tháng 10 năm 2005 Tòa án quận X thụ lý vụ tranh chấp hợp đồng thuê nhà giữa 2 bên đương sự A và B ( gọi tắt là vụ án Y ). Chánh án tòa án đã phân công thẩm phán M và thư ký N chịu trách nhiệm giải quyết vụ án Y. Thư ký N đã thực hiện các công việc theo trách nhiệm của thư ký tòa án do BLTTDS quy định ( Ghi biên bản lời khai, biên bản hòa giải và các biên bản tố tụng khác...) Tháng 12 năm 2005, thẩm phán M chuyển công tác sang Tòa án khác, thư ký N có quyết định bổ nhiệm Thẩm phán. Nhằm thuận lợi cho việc giai quyết vụ án Y, chánh án tòa quận X tiếp tục phân công N là thẩm phán phụ trách giải quyết vụ án Y. Câu nhận định nào sau đây là đúng nhất ? Tại sao ?
1. N không thể tiếp tục tham gia giải quyết vụ án Y.
2. N có thể tiếp tục giải quyết vụ án Y với tư cách Thẩm phán.
3. N có thể tiếp tục giải quyết vụ án Y.

Giáo viên ra đề: cô Ths. Đặng Thanh Hoa

ĐỀ THI TTDS HP 2 lớp QT32A thời gian 60 phút CHỈ ĐC SỬ DỤNG BỘ LUẬT TTDS 2005

A. Phần lý thuyết : 6 điểm : trả lời ngắn gọn

1. Đại diện của đương sự có quyền kháng cáo thay cho đương sự.
2. Thời gian tạm đình chỉ giải quyết vụ án không tính vào thời hạn chuẩn bị xét xử.
3. Tòa Dân sự tòa án tối cao có quyền giám đốc thẩm các quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án Tình thành phố.
4. Đương sự ko có nghĩa vụ tham gia phiên toà Giám đốc thẩm.
5. Liệt kê các quyết định sơ thẩm và giá trị pháp lý của các quyết định đó.

B. Phần bài tập: 4 điểm

Nguyễn Thị A. làm đơn yêu cầu Tòa án cho ly hôn với Trần Văn B. A và B có 1 con chung là C ( 4 tuổi ). Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án ly hôn nói trên, A và B đã ko thỏa thuận đc với nhau về khoản tiền cấp dưỡng nuôi con. Theo đó, A yêu cầu B cấp dưỡng nuôi con khoản tiền 5 triệu/ tháng. B ko đồng ý và chỉ chấp nhận cấp dưỡng nuôi con khoản tiền 1 triệu/ tháng với điều kiện C là con của B và yêu cầu Tòa án giám định để xác định C có phải là con của B hay ko? Hãy trả lời các câu hỏi sau đây và giải thích tại sao?
1. Tòa án ko thể giải quyết yêu cầu ly hôn khi chưa xác định đc việc cấp dưỡng cháu C ?
2. Tòa án ko thể giải quyết yêu cầu giám định của B ?
3. Tòa án phải tách yêu cầu xác định con của B thành một vụ án khác ?