Biên giới Việt Nam- Campuchia

Dây là biên giới Việt Nam-Campuchia ở Đồng Tháp

Nguyễn văn Tiến

Đại học Luật Tp.HCM

Hình đi hội thảo ở Nha trang

Tôi đang ngồi giữa một bên là một bên là biển và một bên là trường đại học Nha trang

đồng tháp quê hương miền Tây

mời bạn cùng uống cà phê với chúng tôi

Hình kỷ niệm 15 năm thành lập ĐH Luật TPHCM

Mời bạn tham khảo một thoáng về gian hàng trưng bày của khoa Luật Dân sự

Thứ Tư, 3 tháng 4, 2013

CAU HOI VA BAI TAP TTDS

HỆ THỐNG CÂU HỎI - BÀI TẬP ÁP DỤNG VÀ BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Môn học: LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ A. HỆ THỐNG CÂU HỎI – BÀI TẬP ÁP DỤNG: I. Câu hỏi Chương 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự 1. Khái niệm Luật Tố tụng dân sự. Phân biệt luật Tố tụng dân sự với một số ngành luật có liên quan? 2. Nguồn của Luật Tố tụng dân sự? 3. Phân loại các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự? 4. Nội dung các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự? 5. Luật Tố tụng dân sự và việc bảo vệ quyền con người? Chương 2: Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự 1. Cơ quan tiến hành tố tụng? 2. Người tiến hành tố tụng? 3. Quyền nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng? 4. Thay đổi người tiến hành tố tụng? 5. Năng lực chủ thể của đương sự? 6. Các đương sự: Khái niệm, quyền và nghĩa vụ? 7. Người tham gia tố tụng khác: Khái niệm, quyền và nghĩa vụ? 8. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan tư pháp? Chương 3: Thẩm quyền của Tòa án 1. Khái niệm thẩm quyền, thẩm quyền theo vụ việc, các cấp, lãnh thổ và theo sự lựa chọn? Ý nghĩa của thẩm quyền? 2. Thẩm quyền của Tòa án và việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan tư pháp? 3. Nội dung thẩm quyền theo vụ việc? 4. Nội dung thẩm quyền của Tòa án các cấp? 5. Nội dung thẩm quyền theo lãnh thổ? 6. Nội dung thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn và người yêu cầu? 7. Tranh chấp thẩm quyền và cách giải quyết? Chương 4: Án phí – Lệ phí trong Tố tụng dân sự 1. Khái niệm án phí và ý nghĩa của án phí? 2. Mức án phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và chủ thể chịu án phí? 3. Khái niệm tạm ứng án phí và ý nghĩa của tạm ứng án phí? 4. Mức tạm ứng án phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và chủ thể phải nộp tạm ứng án phí? 5. Xử lý tiền tạm ứng án phí? 6. Khái niệm lệ phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và mức lệ phí? 7. Các loại chi phí tố tụng và người phải nộp? Chương 5: Chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ? 2. Phân biệt chứng cứ và nguồn chứng cứ? 3. Phân loại và ý nghĩa của phân loại chứng cứ? 4. Nguyên tắc xác định chứng cứ 5. Khái niệm chứng minh? 6. Quá trình chứng minh? 7. Chủ thể phạm vi chứng minh? 8. Chứng cứ và chứng minh và việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án? Chương 6: Thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự 1. Quyền khởi kiện và ý nghĩa của quyền khởi kiện? 2. Quyền khởi kiện và việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án? 3. Điều kiện khởi kiện? 4. Thủ tục khởi kiện? 5. Thụ lý và thủ tục thụ lý vụ án dân sự? 6. Trả lại đơn khởi kiện? 7. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 8. Hòa giải: Khái niệm, nguyên tắc, phạm vị, thủ tục hòa giải? 9. Tạm đình chỉ: Khái niệm, căn cứ, hậu quả pháp lý? 10. Đình chỉ: Khái niệm, căn cứ, hậu quả pháp lý? 11. Biện pháp khẩn cấp tạm thời: Khái niệm, các biện pháp, thủ tục áp dụng và hiệu lực thi hành? 12. Khái niệm và ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm? Phiên tòa sơ thẩm và việc bảo vệ quyền con người? 13. Trình tự phiên tòa sơ thẩm? 14. Bản án sơ thẩm? Chương 7: Thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự? 2. Quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và ý nghĩa? 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và việc bảo vệ quyền con người? 4. Trình tự kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm? 5. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm? 6. Phiên tòa phúc thẩm? 7. Quyền hạn của Hội đồng xét xử? 8. Thủ tục phúc thẩm các quyết định? Chương 8: Thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật? 2. Thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và việc bảo vệ quyền con người? 3. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm? 4. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm? 5. Chủ thể kháng nghị? Thời hạn kháng nghị? 6. Hậu quả của việc kháng nghị? 7. Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm? 8. Quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm? 9. Quyền hạn của Hội đồng tái thẩm? Chương 9: Thủ tục giải quyết việc dân sự 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục giải quyết việc dân sự? 2. Bảo vệ quyền con người trong thủ tục giải quyết việc dân sự? 3. Thủ tục sơ thẩm việc dân sự? 4. Thủ tục phúc thẩm việc dân sự? 5. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự? 6. Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú? 7. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích, một người là đã chết? 8. Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài? II. Bài tập áp dụng TRANH CHẤP QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Huệ Trú tại: 105 Trần Hưng Đạo, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum; (Bà Huệ ủy quyền cho con là Đồng Thị Thu Dung) Bị đơn: Anh Đồng Văn Hải Trú tại: 11 Đặng Thái Thân, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum (Anh Hải ủy quyền cho anh Đồng Văn Chi) Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: 1. Anh Đồng Văn Tân 2. Anh Đồng Văn Toán 3. Chị Đồng Thị Chi Đều trú tại: 104 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum. 4. Anh Đồng Văn Chi, trú tại 107 Huỳnh Thúc Kháng, thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum. NỘI DUNG VỤ ÁN: Chị Đồng Thị Thu Dung (đại diện theo ủy quyền của bà Huệ) trình bày: Trước đây mẹ tôi là bà Huệ có mua nhà, đất có bà Phạm Thị Xuân tại số: 104 Nguyễn Huệ, Thị xã Kon Tum (tại thời điểm ngày 301-2-1990 nhà đất này mang số 104 b Nguyễn Huệ theo đơn xin mua bán nhà đất giữa ông Đồng Văn Hải và bà Phạm Thị Xuân). Trong đó diện tích nhà 15m2, diện tích đất 418m2 giá 35 chỉ vàng. Ngày 28-12-1990 mẹ tôi và bà Xuân có viết giấy giao nhận xe và vàng, trong đó mẹ tôi giao cho bà Xuân là Nguyễn Văn Cường và Nguyễn Văn Hải chứng kiến và cùng ký vào giấy này, ông Nguyễn Xuân Lẻ cháu gọi bà Xuân bằng dì là người được bà Xuân nhờ kiểm tra và điểm vàng cũng biết rõ việc giao nhận xe, vàng giữa mẹ tôi và bà Xuân. Ngày 30-12-1990 mẹ tôi nhờ con trai trưởng Đồng Văn Hải đứng tên xin mua bán nhà đất nêu trên của bà Phạm Thị Xuân, trong hợp đồng mua bán này chỉ có anh Hải và bà Xuân ký tên, còn mẹ tôi do tin tưởng vào con trai trưởng (anh Hải) nên không làm giấy ủy quyền cho anh Hải đứng tên và cũng không ký vào giấy mua bán nhà với bà Xuân. Đơn xin mua bán nhà ngày 30-12-1990 mẹ tôi nhờ bà Bồng ở gần nhà bà Xuân viết hộ, hiện nay bà Bồng ở 79 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum biết sự thật nhà đất này do mẹ tôi mua của bà Xuân, chỉ nhờ anh Hải đứng tên để sau này chia lại cho các anh em tôi trong gia đình, riêng phần anh Hải trước đây mẹ tôi đã mua cho nhà và đất tại 112 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tom. Do anh Hải quá tham lam lợi dụng việc đứng tên trong giấy mua bán nhà với bà Xuân nên đã di làm cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở số 126 đứng tên anh Hải, do Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cấp ngày 25-12-2002 và chiếm đoạt luôn nhà đất của mẹ tôi. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật làm sáng tỏ để bảo vệ quyền lợi cho mẹ tôi. Anh Đồng Văn Chi đại diện theo ủy quyền của Đồng Văn Hải ý kiến: Nhà đất tại 104 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum hiện nay là nhà anh Đồng Văn Hải mua của bà Phạm Thị Xuân ngày 301-2-1990 giá 20 chỉ vàng. Anh Hải giao cho bà Xuân một xe Hon da 67 và 9 chỉ vàng, xe này do mẹ Trần Thị Huệ cho anh Hải trước đó, nhưng giấy tờ đứng tên Trần Thị Huệ, trị giá xe lúc giao bà Xuân là 11 chỉ vàng. Nay bà Trần Thị Huệ kiện tranh chấp quyền sở hữu nhà đất tại 104 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum với anh Hải tôi không đồng ý, vì nhà đất này đã được Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 126 ngày 25-12-2002. Đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Chị Đồng Thị Thu Hà trình bày: Chị là con đẻ của bà Trần Thị Huệ nên chị biết rõ ngày 28-12-1990 mẹ chị có sang nhượng nhà, đất của bà Xuân tại 104, Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum hiện nay, với giá 35 chỉ vàng y. Chính mẹ tôi là người trực tiếp giao xe Hon da 67 và 24 chỉ vàng y cho bà Xuân ngày 28-12-1990 (Trị giá xe Hon da là 11 chỉ vàng y). Vì anh Đồng Văn Hải là con trai trưởng nên mẹ tôi tin tưởng để anh Hải đứng tên trong đơn xin mua bán nhà đất với bà Xuân ngày 30-12-1990, mục đích mẹ tôi để anh Hải đứng tên trong đơn mua bán này để sau này anh Hải có trách nhiệm thay mặt mẹ chia đều cho các anh, chị em tôi. Phần anh Hải trước đây mẹ tôi có mua cho một căn nhà 112 Nguyễn Huệ. Nhà đất mẹ tôi mua của bà Xuân do anh Hải đứng tên, sau này anh Hải chia cho tôi 47,6m2 và tôi đã được Ủy ban nhân dân thị xã Kon Tum cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00083/QSDĐ ngày 7-4-2003, phần đất còn lại anh Hải lợi dụng việc đứng tên trong giấy tờ mua bán nên đi làm sổ đỏ đứng tên anh Hải và chiếm đoạt luôn không chia cho các anh em khác theo nguyện vọng của mẹ tôi. Thực tế nhà đất này mẹ tôi mua của bà Xuân, chỉ nhờ anh Hải đứng tên, nay anh Hải lợi dụng để chiếm đoạt của mẹ tôi, nay tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Phần diện tích tôi được chia và có cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, tôi cũng chấp nhận hủy bỏ để trả lại đất cho mẹ tôi, căn nhà 104 Nguyễn Huệ là của mẹ tôi mua trước đây, tôi cũng nhất trí trả lại quyền sở hữu cho mẹ tôi. Các anh Đồng Văn Tân, Đồng Văn Toàn có ý kiến như Đông Văn Chi đã trình bày. Đồng Văn Toàn khai được Đồng Văn Hải cho ở tạm trên đất 104 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum hiện nay đã xây dựng hai gian nhà diện tích 94,5m2. Đất này đã được Ủy ban nhân dân thị xã Kon Tum cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: 00084 ngày 7-4-2003. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 11/2005/DS-ST ngày 12-4-2005 Tòa án nhân dân thị xã Kon Tum, tỉnh Kon Tum đã quyết định: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Trần Thị Huệ ghi ngày 3-6-2004 về việc “đề nghị xác lập lại quyền sở hữu”. Công nhận căn nhà có diện tích 15m2 tại số 104 Nguyễn Huệ, phường Quyết Thắng, thị xã Kon Tum, tọa lạc trên diện tích diện tích đất 374m2. Hiện nay đang mang tên Đồng Văn Hải, Đồng Văn Tân, Đồng Thị Thu Hà là của bà Trần Thị Huệ. - Kiến nghị với Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum, thu hồi cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở số 126 ngày 25-12-2002 mang tên Đồng Văn Hải. - Kiến nghị với Ủy ban nhân dân thị xã Kon Tum, thu hồi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00083/QSDĐ mang tên Đồng Thị Thu Hà và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00084/QSDĐ cấp ngày 7-4-2003 mang tên Đồng Văn Tân. - Bà Trần Thị Huệ được quyền đến các cơ quan có thẩm quyền để xin đăng ký quyền sở hữu nhà số 104 Nguyễn Huệ, phường Quyết Thắng, thị xã Kon Tum và quyền sử dụng đất mang tên Trần Thị Huệ. Diện tích nhà đất như đã ghi trong giấy chứng nhận (mục II) mang tên Đồng Văn Hải được cấp ngày 25-12-2002, sau khi cơ quan có thẩm quyền thu hồi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà của Đồng Văn Hải, Đồng Văn Tân và Đồng Thị Thu Hà. - Đồng Văn Tân và Đồng Văn Toàn có nghĩa vụ tháo dỡ toàn bộ diện tích nhà xây dựng trên đất mang tên bà Trần Thị Huệ. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Trần Thị Huệ. Bà Huệ có nghĩa vụ thanh toán cho Đồng Văn Tân 16.760.803 đồng, thanh toán cho Đồng Văn Toàn 7.603.960 đồng tiền trị giá còn lại của công trình tháo dỡ xây dựng trên đất của bà Huệ tại 104 Nguyễn Huệ, thị xã Kon Tum. Công nhận sự tự nguyện chịu khoản tiền chi phí đo đạc, định giá là 600.000 đồng của đại diện nguyên đơn. Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 21-4-2005, anh Đồng Văn Hải, anh Đồng Văn Chi, anh Đồng Văn Toàn, anh Đồng Văn Tân kháng cáo không đồng ý bản án sơ thẩm. Tại Quyết định số 01/QĐ-DS ngày 25-4-2005, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kon Tum kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm trên, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum xét xử phúc thẩm theo hướng công nhận nhà đất là của anh Hải và bác yêu cầu của bà Trần Thị Huệ. Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 4-8-2005 khi đang làm thủ tục thì anh Hải, anh Tân, anh Toàn và chị Chi bỏ về; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tỉnh Kon Tum rút kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kon Tum. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 27/2005/DSPT ngày 4-11-2005, Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum đã quyết định: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật tố tụng dân sự. Đình chỉ việc xét xử vụ án đối với Kháng nghị số 01/QĐ-DS ngày 25-4-2005 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kon Tum, và kháng cáo của Đồng Văn Hải, Đồng Văn Tân, Đồng Văn Toàn, Đồng Văn Chi. Bản án số: 11/DSST ngày 12-4-2005 của Tòa án nhân dân thị xã Kon Tum có hiệu lực pháp luật kể từ ngày 4-11-2005. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Hải, anh Toàn, anh Tân và chị Chi có đơn khiếu nại. Với nội dung vụ án nêu trên, anh (chị) hãy phân tích, bình luận những vấn đề sau: 1. Việc đình chỉ xét xử của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum. 2. Phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm trong việc áp dụng pháp luật nội dung và vấn đề đánh giá chứng cứ. TRANH CHẤP VỀ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Thu, sinh năm 1920 Trú tại: số 3 Trần Quang Khải, phường Tân Định, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Ông Thu ủy quyền cho bà Nguyễn Thị Tuyết Mai, sinh năm 1955, trú cùng địa chỉ ông Thu. Bị đơn: 1. Bà Lê Thị Bạch Liên, sinh năm 1972, ông Nguyễn Minh Hoàng, sinh năm 1970 2. Bà Lê Thị Minh Tuyết, sinh năm 1972, ông Nguyễn Tuấn Anh, sinh năm 1972 3. Bà Nguyễn Thị Thủy, sinh năm 1973, ông Trần Đây, sinh năm 1972 4. Bà Hoàng Thị Tân, sinh năm 1973, ông Võ Văn Thành, sinh năm 1970 5. Bà Nguyễn Thị Kim Loan, sinh năm 1960, ông Phạm Văn Vằn, sinh năm 1962 6. Bà Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1943 Đều trú tại: Tổ 8, ấp Hải Phong 1, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. NỘI DUNG VỤ ÁN Tại đơn khởi kiện ngày 19-5-2005 và các lời khai của ông Nguyễn Văn Thu do bà Nguyễn Thị Tuyết Mai trình bày: Ông Ngô Thiện Khai và bà Phạm Thị Năm có mua 8 lô đất của công Huỳnh Công Cẩn từ năm 1966, trong đó có 3 lô đã cất nhà ở, còn 5 lô đất trống tọa lạc tại ấp Hải Phong 1, thị trấn Long Hải, huyện Long Điền để làm nơi nghỉ mát. Sau năm 1975, có một số hộ vào chiếm ở 3 căn nhà và nhà nước đã quản lý nhà đất theo diện vắng chủ vì tưởng ông Khai vượt biên, phần đất trống của 5 lô còn lại một số người dân vào chiếm để làm nhà ở và bán chuyền tay cho nhau. Năm 1980, ông Khai ủy quyền cho vợ chồng người em gái là Ngô Thị Tuyết và Nguyễn Văn Thu (là cha mẹ của bà Mai) làm đơn xin trả lại nhà. Tháng 7-1984, Ủy ban nhân dân huyện Long Đất có văn bản trả lại nhà đất cho ông Khai. Năm 1985, các hộ đã ở trong 3 căn nhà đã di dời đi chỗ khác và giao trả lại nhà có nhận tiền hỗ trợ di dời theo quyết định của Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải. Đến năm 1986, Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải có văn bản xin mượn nhà cho tập thể giáo viên trường Trung học cơ sở của địa phương ở nhờ. Năm 1991, ông Khai làm giấy bán nhà đất cho ông Thu, bà Tuyết (có đơn và lời khai của ông Thu lại cho rằng ông Khai bán nhà đất cho ông Thu từ năm 1980 BL229, 226), hai bên chưa kịp làm thủ tục sang tên thì ông Khai chết năm 1992. Trong năm 1992, ông Thu ký các văn bản về giao nhận nhà với chính quyền địa phương. Ông Thu có nhờ bà Trương Thị Tài (Kim Anh) là hàng xóm trông coi nhà đất hộ, nhưng bà Tài lại cho con cháu vào ở. Từ năm 1990, vợ chồng ông Thu về thấy có một số hộ dân chiếm đất làm nhà ở đã có đơn đề nghị đến Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải. Năm 2001 được sự ủy quyền của ông Thu, bà Mai đã tiếp tục khiếu nại về việc chiếm đất, qua hòa giải có 4 hộ trả lại nhà đất (gồm 3 hộ trả nhà, 1 hộ trả đất) hiện còn 6 hộ không trả. Nay khởi kiện đề nghị tòa án buộc các hộ này phải trả đất, di dời tài sản đi nơi khác và đồng ý bồi thường những tài sản trên đất cho các hộ. Ông Nguyễn Minh Hoàng và bà Lê Thị bạch Liên trình bày: Năm 1995, vợ chồng ông có mua nhà đất của ông Huỳnh Ngọc Trực, có lập hợp đồng, sau khi mua đã sửa chữa lại nhà và vào ở, đóng thuế đất đủ, từ năm 1995 đến 2001 không có ai tranh chấp, chỉ sau này năm 2002 ông thu mới tranh chấp, các ông bà không đồng ý trả đất cho ông Thu diện tích 57,5m2. Ông Phạm Văn Vằn và bà Nguyễn Thị Kim Loan trình bày: năm 1987, vợ chồng ông bà mua lại nhà, đất của ông Tôn Thất Minh, trên đất có một căn nhà, hai bên có lập giấy. Năm 1991, vợ chồng bà làm đơn xin sửa chữa nhà được ban ấp đồng ý, gia đình ông đã sửa chữa làm lại mái tôn, lót gạch tàu, vách cót, vợ chồng ông đóng thuế từ năm 1993. Đến năm 2002 thì ông Thu tranh chấp, bà Loan và ông Vằn không đồng ý trả lại đất diện tích 54,5m2. Bà Lê Thị Minh Tuyết và ông Nguyễn Tấn Anh trình bày: cụ Trần Thị Thân là mẹ của bà Tuyết đã vào khai phá từ năm 1982 và cất nhà ở. Năm 1993 cụ Thân chết thì chị em bà Tuyết quản lý sử dụng, vào năm 1996 bà Tuyết lập gia đình nên cho em ra ở phần trước, còn bà Tuyết ở phần phía sau là phần đất mà ông Thu tranh chấp, bà không đồng ý trả lại đất vì gia đình bà đã sử dụng ổn định thực hiện nghĩa vụ thuế đầy đủ diện tích 32,7m2. Bà Nguyễn Thị thủy và ông Trần Đây trình bày: Năm 1999 vợ chồng bà có mua nhà đất của bà Huỳnh Thị Diễm giá 1,2 lượng vàng 24k, hiện nay bà Diễm ở đâu không rõ, năm 2001 vợ chồng bà phá bỏ nhà cũ để xây dựng lại, sau đó có sửa chữa nhà 2 lần. Năm 2002 khi ông Thu tranh chấp, qua giải quyết tại Ủy ban nhân dân thị trấn Long Hải, địa phương đề nghị các bên thương lượng thì bà Mai đòi các hộ đang ở phải trả 1.000.000đ/m2 nhưng các hộ đang ở chỉ đồng ý trả 200.000đ/m2, bà Mai đồng ý làm giấy thương lượng yêu cầu các hộ ký giấy. Khi các hộ đang ở đấy ký giấy cho bà Mai với mục đích để tiện sau này làm giấy tờ, chứ không phải thừa nhận đất của ông Thu. Nay bà Thủy, ông Đây không đồng ý trả đất cho ông Thu diện tích 29,1m2. Bà Hoàng Thị Tân và ông Võ Văn Thành trình bày: Năm 2001, vợ chồng ông bà mua lại nhà đất của bà Nguyễn Thị Mai giá 17 lượng vàng 24k, có giấy mua bán và có sự xác nhận của tổ trưởng và ban ấp, khi sử dụng đất có đóng thuế và đã sửa chữa nhà. Nay không đồng ý trả lại đất diện tích 38,2m2. Bà Nguyễn Thị Liên trình bày: Năm 1980, bà vào khai phá đất và cất nhà ở khoảng 20m2. Trong quá trình sử dụng đất bà đã đóng thuế và thấy có một số người khác vào khai phá làm nhà ở và chuyển nhượng cho nhau. Năm 2002 bà bị sập bà định cất lại nhà thì ông Thu tranh chấp nên không làm lại được. Nay không đồng ý trả đất diện tích 33,4m2. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 35/2006/DS-ST ngày 17-3-2006 Tòa án nhân dân huyện Long Điền quyết định: Áp dụng khoản 7, Điều 25; điểm a, khoản 1, Điều 33 Bộ luật tố tụng dân sự, điểm e, khoản 1, khoản 2, Điều 50; khoản 1, Điều 136 Luật đất đai năm 2003, tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn Thu đòi các đương sự:vợ chồng ba Lê Thị Bạch Liên, vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan, vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết, vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy, vợ chồng bà Hoàng Thị Tân và bà Nguyễn Thị Liên trả lại diện tích 245,4m2 đất thửa 51 tờ bản đồ số 36, thị trấn Long Hải. Có tứ tận tiếp giáp theo sơ đồ vị trí ngày 31-12-2004 như sau: + Đông giáp phần đất còn lại thửa 51, đất bà Lê Thị Lợ, đất ông Võ Văn Thành + Tây giáp đường đất + Nam giáp đất bà Mùi Thị Mơ, Lê Minh Tiên, Huỳnh Kim Chi + Bắc giáp đường đi Dinh Cô 2. Ông Nguyễn Văn Thu được quyền sử dụng diện tích 245,4m2 đất thửa 51, tờ bản đồ số 36 thị trấn Long Hải có tứ cận tiếp giáp như quyết định 1 đã nêu và có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. 3. Buộc các đương sự có tên sau đây phải trả lại cho ông Nguyễn văn Thu diện tích 245,4m2 đất thửa 51, tờ bản đồ số 36 thị trấn Long Hải có tứ cận như quyết định 1 và 2 đã nêu. Cụ thể các đương sự phải trả lại cho ông Thu diện tích đất như sau: - Vợ chồng bà Lê Thị bạch Liên phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Thu diện tích đất là 57,5m2. - Vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Thu diện tích đất là 29,2m2. - Vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Thu diện tích đất là 54,5m2. - Vợ chồng bà Hoàng Thị Tân phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Thu diện tích đất là 38,2m2. - Vợ chồng bà Nguyễn Thị Minh Tuyết phải trả lại cho ông Nguyễn Văn Thu diện tích đất là 32,7m2. - Bà Nguyễn Thị Liên phải trả lại cho ông Nguyễn văn Thu diện tích đất là 33,4m2. (Tứ cận diện tích đất mà các đương sự phải trả lại cho ông Thu theo sơ đồ vị trí ngày 31-12-2004). 4. Ông Nguyễn Văn Thu được sở hữu toàn bộ tài sản trên đất gồm: - 1 căn nhà của vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan. Cấu trúc: mái tole xi măng, vách thiếc, nền gạch tàu diện tích 34,41m2 trị giá 8.258.400đ, 1 cái giếng, 3 ống bê tông cốt thép trị giá 510.000đ. Tổng cộng là 8.768.400đ. - 1 căn nhà của vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy. Cấu trúc: mái tole xi măng, vách xây, nền gạch men, có la phong, diện tích 27,59m2 trị giá 11.918.880đ. - 1 căn nhà của vợ chồng bà Lê Thị Bạch Liên. Cấu trúc: mái tole xi măng, vách cót, nền xi măng, diện tích 34,86m2 trị giá 4.392.360đ, một cây mận trị giá 90.000, 1 cây mãng cầu trị giá 60.000đ. Tổng cộng là 4.542.360đ. - 1 căn nhà của vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết. Cấu trúc: mái tole xi măng,vách cót, nền gạch tàu, diện tích 27,88m2 trị giá 2.634.660đ. - 1 căn nhà của vợ chồng bà Hoàng Thị Tân. Cấu trúc: mái tole xi măng, vách xây, nền gạch men, trần la phong, diện tích 15.84m2 trị giá 4.752.000đ; 1 mái che tole thiếc, nền xi măng diện tích 11,04m2 trị giá 649.704đ; 1 nhà vệ sinh mái tole xi măng, nền gạch men, vách xây diện tích 3,71m2 trị giá 1.168.650đ; 1 sân nền xi măng diện tích 4,465m2 tri5 gia1 115. 643đ; 1 tường rào dài 2,3m, cao 1,75m, có lưới B40 trị giá 482.510đ. Tổng cộng là 7.168.507đ. 5. Ông Nguyễn Văn Thu có nghĩa vụ bồi thường giá trị tài sản trên đất cho các đương sự sau: - Bồi thường cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan giá trị tài sản là: 8.786.400đ. - Bồi thường cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy giá trị tài sản là: 11.918.880đ.- - Bồi thường cho vợ chồng bà Lê Thị Bạch Liên giá trị tài sản là 4.542.360đ. - Bồi thường cho vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết giá trị tài sản là 2.634.660đ. - Bồi thường cho vợ chồng bà Hoàng Thị Tân giá trị tài sản là 7.168.507đ. 6 Các đương sự: vợ chồng bà Lê Thị Bạch Liên, vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết, vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan, vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy, vợ chồng bà Hoàng Thị Tân phải giao toàn bộ tài sản trên đất như quyết định 4 đã nêu cho ông Nguyễn Văn Thu sở hữu và mỗi đu8o8ng sự được sở hữu số tiền như quyết định 5 đã nêu do ông Nguyễn văn Thu bồi thường. 7. Các đương sự: vợ chồng bà Lê Thị Bạch Liên, vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết, vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan, vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy, vợ chồng bà Hoàng Thị Tân, được lưu cư trên đất trong thời hạn 6 tháng, kể từ ngày 17-3-2006, hết thời hạn này các đương sự phải giao lại toàn bộ tài sản như quyết định 3, 4 và 6 đã nêu cho ông Nguyễn Văn Thu sở hữu, sử dụng. 8. Công nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Văn Thu hỗ trợ cho các đương sự như sau: - Hỗ trợ cho vợ chồng bà Lê Thị Bạch Liên số tiền: 2.000.000đ - Hỗ trợ cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy số tiền: 2.000.000đ - Hỗ trợ cho vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết số tiền: 2.000.000đ - Hỗ trợ cho vợ chồng bà Hoàng Thị Tân số tiền: 2.000.000đ - Hỗ trợ cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan số tiền: 2.000.000đ - Hỗ trợ cho vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Liên số tiền: 2.000.000đ 9. Án phí: - Ông Nguyễn Văn Thu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.752.000đ, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 9.496.000đ theo biên lai số 02114 ngày 26-5-2005 của cơ quan thi hành án dân sự huyện Long Điền. Ông Thu được hoàn trả lại số tiền chênh lệch là 7.744.000đ. - Vợ chồng bà Lê Thị Bạch Liên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.731.000đ. - Vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.382.000đ. - Vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 2.588.500đ. - Vợ chồng bà Hoàng Thị Tân phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.814.500đ. -Vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.553.000đ. - Vợ chồng bà Nguyễn Thị Liên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 1.586.500đ. Ngày 27-3-2006, vợ chồng ông Nguyễn Minh Hoàng, bà Nguyễn Thị Liên, vợ chồng bà Nguyễn Thị Kim Loan, vợ chồng bà Nguyễn Thị Thủy, vợ chồng bà Lê Thị Minh Tuyết, vợ chồng bà Hoàng Thị Tân có đơn kháng cáo. Bản án dân sự phúc thẩm số 76/2006/ DSPT ngày 31-5-2006, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu quyết định: Áp dụng khoản 2, Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự; Tuyên xử: - Sửa một phần bản án sơ thẩm. - Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Thu buộc 6 hộ bị đơn có tên sau đây phải giao trả đất cho ông Nguyễn Văn Thu theo diện tích cụ thể như sau: - Hộ bà Lê Thị Bạch Liên phải trả: 57,5m2 - Hộ bà Nguyễn Thị Thủy phải trả: 29,1m2 - Hộ bà Lê Thị Minh Tuyết phải trả: 54,5m2 - Hộ bà Hoàng Thị Tân phải trả: 38,2m2 - Hộ bà Nguyễn Thị Kim Loan phải trả: 32,7m2 - Hộ bà Nguyễn Thị Liên phải trả: 33,4m2 (Tứ cận diện tích đất các đương sự phải trả lại cho ông Thu theo sơ đồ vị trí ngày 31-12-2004). - Ông Nguyễn Văn Thu được quyền sử dụng tổng diện tích đất do 6 hộ bị đơn giao trả là 245,4m2 tại thửa 51 tờ bản đồ số 36 thị trấn Long Hải có tứ cận theo sơ đồ vị trí ngày 31-12-2004 là: + Đông giáp phần đất còn lại thửa 51, đất bà Lê Thị Lợ, đất ông Võ Văn Thành. + Tây giáp đường đất. + Nam giáp đất bà Mùi Thị Mơ, Lê Minh Tiên, Huỳnh Kim Chi. + Bắc giáp đường đi Dinh Cô. Ông Thu phải có nghĩa vụ đăng ký quyền sử dụng đất theo quy định củ pháp luật. - Buộc các hộ: Lê Thị Bạch Liên, Lê Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Thị Tân phải giao toàn bộ tài sản (nhà ở, công trình phụ, cây cối) trên phần đất mỗi hộ sử dụng đúng theo hiện trạng kết cấu như mô tả trong biên bản định giá ngày 22-7-2005 (BL194+195+196) cho ông Nguyễn Văn Thu sở hữu. Đồng thời ông Nguyễn Văn Thu phải có nghĩa vụ bồi thường giá trị tài sản trên đất cho mỗi hộ cụ thể như sau: + Bồi thường cho hộ Nguyễn Thị Kim Loan: 8.786.400đ (Tám triệu bảy trăm tám mươi ngàn bốn trăm đồng) + Bồi thường cho hộ Nguyễn Thị Thủy: 11.918.880đ (Mười một triệu chín trăm mười tám ngàn tám trăm tám mươi đồng) + Bồi thường cho hộ Nguyễn Thị Bạch Liên: 4.542.360đ (Bốn triệu năm trăm bốn mươi hai ngàn ba trăm sáu mươi đồng) + Bồi thường cho hộ Lê Thị Minh Tuyết: 2.634.660đ (Hai triệu sáu trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm sáu mươi đồng) + Bồi thường cho hộ Hoàng Thị Tân: 7.168.507đ (Bảy triệu một trăm sáu mươi tám ngàn năm trăm lẻ bảy đồng) - Các hộ Lê Thị Bạch Liên, Lê Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Thị Tân được lưu cư trên đất trong thời hạn 6 tháng, bắt đầu kể từ ngày 17-3-2006. - Ghi nhận sự tự nguyện của bà Mai đại diện cho ông Thu đồng ý hỗ trợ di dời cho 6 hộ bị đơn là: + Lê Thị Bạch Liên + Lê Thị Minh Tuyết + Nguyễn Thi Kim Loan + Nguyễn Thị Thủy + Hoàng Thị Tân + Nguyễn Thị Liên Mỗi hộ 3.000.000đ (ba triệu đồng). - Về án phí: + Án phí dân sự sơ thẩm: * Ông Thu phải nộp 1.752.000đ, nhưng dược khấu trừ vào số tiền 9.496.000đ tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo phiếu thu 02114 ngày 26-5-2005 của cơ quan thi hành án huyện Long Điền ông Nguyễn Văn Thu được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm còn lại là 7.744.000đ (bảy triệu bảy trăm bốn mươi bốn ngàn đồng). * Hộ bà Lê Thị Bạch Liên phải nộp: 2.731.000đ (Hai triệu bảy trăm ba mươi mốt ngàn) * Hộ bà Nguyễn Thị Thủy phải nộp: 1.382.000đ (Một triệu ba trăm tám mươi hai ngàn đồng). * Hộ bà Nguyễn Thị Kim Loan phải nộp: 2.588.500đ (Hai triệu năm trăm tám mươi tám ngàn năm trăm đồng) * Hộ bà Hoàng Thị Tân phải nộp: 1.814.500đ (Một triệu tám trăm mười bốn ngàn năm trăm đồng) * Hộ bà Lê Thị Minh Tuyết phải nộp: 1.553.000đ (Một triệu năm trăm năm mươi ba ngàn đồng) * Hộ bà Nguyễn Thị Liên phải nộp: 1.586.500đ (Một triệu năm trăm tám mươi sáu ngàn năm trăm đồng) + Án phí dân sự phúc thẩm: Các hộ Lê Thị Bạch Liên, Lê Thị Minh Tuyết, Nguyễn Thị Kim Loan, Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Thị Tân, Nguyễn Thị Liên đều phải nộp. Nên mỗi hộ đều được hoàn lại 50.000đ (Năm mươi ngàn đồng) tiền tạm ứng phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo các phiếu thu: 2477, 2479, 2481, 2478, 2480, 2482, ngày 27, 28-3-2006 của cơ quan thi hành án huyện Long Đất. Sau khi xét xử phúc thẩm, bà Lê Thị Bạch Liên, bà Lê Thị Minh Tuyết, bà Nguyễn Thị Kim Loan, bà Nguyễn Thị Thủy, bà Hoàng Thị Tân, bà Nguyễn Thị Liên có đơn khiếu nại phần đất trống ông Khai bỏ hoang không sử dụng, không đăng ký kê khai, chưa có giấy tờ hợp pháp về quyền sử dụng đất, giấy tờ mua bán do ông Thu xuất trình không có thị thực, không chứng minh được sở hữu và quyền sử dụng đất hợp pháp nên không có quyền khởi kiện đòi đất. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu có Công văn số 588/ DS-VKS ngày 22-9-2006 đề nghị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Với vụ án trên, anh (chị) phân tích những vấn đề sau: 1. Tư cách đương sự trong vụ án ở cấp sơ thẩm, phúc thẩm 2. Hoạt động áp dụng pháp luật nội dung của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm. TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG Nguyên đơn: Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Quyết Thắng Địa chỉ: Km số 7 quốc lộ 26, phường Tân Hòa, thành phố Buôn Mê Thuột, Đắk Lắk có ông Hồ Á là đại diện theo ủy quyền theo giấy ủy quyền ngày 11-8-2008 Bị đơn: Công ty TNHH Hào Hưng Địa chỉ: 47/46-47/48, đường Lạc Long Quân, phường 1, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh Có bà Lưu Ngọc Diệu đại diện Có luật sư Tạ Quang Tòng bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn Có luật sư Phạm Cao Thái bảo vệ quyền lợi cho bị đơn Các luật sư, đương sự có mặt đầy đủ. NỘI DUNG VỤ ÁN Nguyên đơn Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Quyết Thắng do Ông Hồ Á là đại diện theo ủy quyền trình bày như sau: Vào ngày 12-2-2004, giữa Công ty xây dựng và xuất nhập khẩu Quyết Thắng (nay là Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Quyết Thắng) đã ký Hợp đồng kinh tế số 077/HH-ĐN-2004 với chi nhánh của Công ty TNHH Hào Hưng về việc mua bán một số sản phẩm gỗ cao su. Sau khi ký hợp đồng, nguyên đơn đã giao cho phía bị đơn một số lượng hàng theo hợp đồng với tổng giá trị là 267.476.440 đồng. Ngày 9-3-2004, bị đơn đã trả cho nguyên đơn 50.000.000 đồng và ngày 26-3-2004 trả thêm 70.000.000 đồng, tổng cộng là 120.000.000 đồng Ngày 30-6-2004, đôi bên tiến hành đối chiếu công nợ và thống nhất xác định số tiền bị đơn còn phải thanh toán cho nguyên đơn tính đến ngày 30-6-2004 là 147.476.400 đồng Ngày 23-12-2004, nguyên đơn gửi văn bản yêu cầu bị đơn thanh toán số nợ trên và lãi quá hạn phát sinh với tổng số tiền là 154.663.459 đồng, bị đơn không thanh toán Ngày 11-1-2005, bị đơn có làm văn bản gửi nguyên đơn xin gia hạn thanh toán như sau: - Ngày 11-2-2005 thanh toán 20.00.000 đồng; - Ngày 13-3-2005 thanh toán 20.00.000 đồng; - Ngày 13-4-2005 thanh toán 20.00.000 đồng; - Ngày 15-5-2005 thanh toán 20.00.000 đồng; - Ngày 16-5-2005 thanh toán 20.00.000 đồng; - Số tiền còn lại sẽ thanh toán trong tháng 7-2005. Nguyên đơn không đồng ý và có văn bản yêu cầu Công ty TNHH Hào Hưng phải thanh toán dứt điểm nợ trong tháng 5-2005, nhưng bị đơn vẫn không thực hiện Ngày 13-5-2006, bị đơn có trả cho nguyên đơn 9.000.000 đồng. Ngày 16-12-2006 trả thêm 5.000.000 đồng Do bị đơn đã vi phạm hợp đồng đã ký kết với nguyên đơn, gây thiệt hại cho nguyên đơn. Do vậy, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền còn thiếu là 147.476.440 đồng và tiền lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán từ ngày 30-4-2004 đến ngày 30-5-2008 là 147.476.440 x 1,5%/tháng x 47 tháng = 103.447.330 đồng. Tổng công nợ và lãi do chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán là 251.447.330 đồng, đã trả 14.000.000 đồng còn lại 237.447.330 đồng Bị đơn Công ty TNHH Hào Hưng cố tình vắng mặt 2 lần Tòa sơ thẩm Tòa án nhân dân quận 11 đã tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và tuyên xử: Căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 29; khoản 1, Điều 33; điểm a, khoản 1, Điều 35; khoản 2, Điều 200; khoản 5, Điều 92; Điều 162; Điều 305 Bộ luật dân sự năm 2005; Nghị quyết số 45/2005/QH11 ngày 14-6-2005 của Quốc Hội; nghị định 70/CP ngày 19-6-1997 của Chính phủ tuyên xử: 1. Buộc bị đơn Công ty TNHH Hào Hưng phải trả cho nguyên đơn Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Quyết Thắng số tiền mua hàng còn thiếu và số tiền lãi do việc chậm thanh toán từ tháng 6-2006 đến tháng 5-2008 theo Hợp đồng kinh tế số 077/HH-ĐN-2004 ngày 12-2-2004 mà nguyên bị đơn đã ký là 237.447.330đ00 (hai trăm ba mươi bảy triệu bốn trăm bốn mươi bảy ngàn ba trăm ba mươi đồng chẳn), trong đó số tiền mua hàng còn thiếu là 147.476.440 đồng và còn lại là tiền lãi, trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật Kể từ ngày nguyên đơn Công ty cổ phần xây dựng và xuất nhập khẩu Quyết Thắng có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn Công ty TNHH Hào Hưng không trả đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo mức lãi suất có bản nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án. 2. Án phí Dân sự sơ thẩm 10.123.000đ00 (mười triệu một trăm hai mươi ba ngàn đồng) chuẩn bị đơn Công ty TNHH Hào Hưng phải nộp Hoàn lại cho nguyên đơn tiền tạm nộp án phí Dân sự sơ thẩm là 4.377.000đ00 (bốn triệu ba trăm bảy mươi bảy ngàn đồng chẳn) theo biên lai thu số 001035 ngày 17-1-2008 của thi hành án dân sự quận 11. Ngày 10-6-2008 bị đơn Công ty TNHH Hào Hưng kháng cáo bản án sơ thẩm với yêu cầu như sau: 1. Xét về thời hiệu khởi kiện vụ án đã hết thời hiệu 2. Vụ kiện này không thuộc thẩm quyền của Tòa án quận 11 3. Tòa sơ thẩm không triệu tập người có quyền lợi liên quan là chi nhánh người ký kết hợp đồng và tham gia tố tụng 4. Chưa xem xét phần lỗi của nguyên đơn do việc giao hàng không đúng hợp đồng, mặt khác hàng không đảm bảo chất lượng 5. Việc tính lãi là không hợp lý Tại phiên Tòa phúc thẩm phía bị đơn xin rút lại yêu cầu kháng cáo về thẩm quyền, 4 yêu cầu còn lại vẫn giữ nguyên Phía nguyên đơn đề nghị sửa án sơ thẩm, điều chỉnh lại phần tiền nợ gốc còn thiếu là 133.476.440 đồng và tiền lãi yêu cầu tính từ ngày 15-12-2006 đến nay theo quy định của pháp luật. Luật sư Tạ Quang Tòng bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử như án sơ thẩm có điều chỉnh phần tiền nợ gốc và tính lãi cho phù hợp Luật sư Phạm Cao Thái bảo vệ quyền lợi cho bị đơn đề nghị xử hủy án sơ thẩm do Tòa sơ thẩm không đưa bà Lưu Ngọc Diệu tham gia tố tụng và xử vượt quá yêu cầu kiện của nguyên đơn thể hiện việc nguyên đơn chỉ đòi tiền nợ gốc 133.476.440 đồng, án sơ thẩm xử buộc trả 147.476.440 đồng, và việc tính lãi không đúng. Ý kiến của anh (chị)? TRANH CHẤP VỀ HỢP ĐỒNG Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thùi, sinh năm 1948, trú tại ấp Vĩnh Thới, xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Bị đơn: Ông Lê Văn Răng, sinh năm 1947, trú tại ấp Tích Lộc, xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan 1. Anh Nguyễn Thanh Sơn, sinh năm 1973, trú tại ấp Vĩnh Thới, xã Thuận Thới, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long 2. Chị Lê Thị Tiền, sinh năm 1978, trú tại ấp Tích Lộc, xã Tích Thiện, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện ngày 8-11-2004 và lời khai bà Nguyễn Thị Thùi trình bày: Ông Răng là thông gia với bà, vào tháng 11-2000 ông Răng có hỏi mượn heo của bà, bà không cho mượn, nhưng sau đó ông Răng tự động vào chuồng heo bắt 7 con heo của bà, mỗi con heo nặng 100kg, tổng số khoảng 900kg heo. Khi bắt heo, ông Răng không cân cụ thể mà gọi người mua mang đi và nói khi bán về sẽ tính sau. Bà đã đòi nhiều lần nhưng ông Răng không trả, mãi sau mẹ ông Răng có trả bà được 400.000 đồng. Heo khi đó bán giá 15.000 đồng trên 1kg heo hơi, tổng số ông Răng bắt heo bán trị giá 13.500.000 đồng, nay ông Răng còn nợ 13.100.000 đồng, yêu cầu ông Răng trả tiền cho bà. - Ông Lê Văn Răng không thừa nhận vay heo của bà Thùi mà ông cho rằng bà Thùi nhờ ông bán dùm, ông bắt bán hộ 7 con, bán giá 900.000 đồng trên 1 tạ heo và bán được 4.900.000 đồng. Khi bắt heo có cả con rể ông và là con trai của bà Thùi là anh Nguyễn Thanh Sơn, sau khi bán heo ông đã đưa tiền ngay cho anh Sơn. Nay ông xác định không nợ tiền heo của bà Thùi. - Chị Lê Thị Tiền trình bày: Năm 2000 vợ chồng chị còn ở với nhau, khi đó vợ chồng chị có mở hàng sắt, thiếu vốn nên vợ chồng có hỏi mượn 7 con heo của mẹ chồng là bà Thùi. Tiền bán heo về đưa cho anh Sơn, chồng chị, mua sắt; sau đó vợ chồng làm có tiền đã trả hết bà Thùi sau 1 tháng. - Anh Nguyễn Thanh Sơn trình bày: Anh không bắt heo cùng ông Răng và cũng không nhận tiền của ông Răng, nay anh đề nghị giải quyết theo pháp luật Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 21/DSST ngày 16-3-2005 của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn đã quyết định: Buộc ông Răng trả bà Thùi 759kg heo hơi loại 1 theo giá thị trường tại thời điểm thi hành án Ngày 18-3-2005 ông Răng kháng cáo Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 126/2005/DSPT ngày 1-7-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long đã quyết định: Y án sơ thẩm Sau khi xét xử phúc thẩm, ông Răng khiếu nại. Với vụ án trên, anh (chị) phân tích, bình luận về những vấn đề sau: 1. Hoạt động đánh giá chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm. 2. Hoạt động áp dụng pháp luật nội dung của Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm. TRANH CHẤP THỪA KẾ Nguyên đơn: Bà Trương Thị Tuất, sinh năm 1946 Trụ tại: Khu tập thể Trung tâm dịch vụ chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp Minh Quang - Ba Vì, tỉnh Hà Tây - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Lan, sinh năm 1940 Trú tại: Thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây, tỉnh Hà Tây Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Nguyễn Thị Nương, sinh năm 1944 Trú tại: Đồi Chợ - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây 2. Bà Trịnh Thị Nga, sinh năm 1950 3. Chị Nguyễn Thị Thu Hằng, sinh năm 1972 4. Chị Nguyễn Thị Thu Hà, sinh năm 1981 Đều trú tại: số 24 ngõ 1B phố Long Biên I - Ngọc Lâm - Long Biên - Hà Nội 5. Chị Nguyễn Thị Thoa, sinh năm 1967 Trú quán: Khu B - Nông trường Đồng Mô - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây 6. Anh Nguyễn Văn Viết, sinh năm 1974 7. Anh Nguyễn Văn Hải, sinh năm 1977 Đều trú quán: Khu tập thể Trung tâm dịch vụ chuyển giao kỹ thuật nông lâm nghiệp - Minh Quang - Ba Vì - Hà Tây 8) Ông Nguyễn Trung Trực, sinh năm 1948 Trú quán: Thôn Đậu - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây 9. Ông Nguyễn Văn Tiếp, sinh năm 1949 Trú quán: số 36/267A Quang Trung, phường 12 - Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh 10. Anh Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1959 Trú quán: thôn Cây Đa - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây 11. Anh Phạm Văn Lờ, sinh năm 1957 Trú quán thôn Ngõ Bắc - Cổ Đông - Sơn Tây - Hà Tây 12. Chị Phạm Thị Quất, sinh năm 1954 Trú quán: thôn Triều Đông - Cổ Đông - Sơn Tây - Hà Tây 13. Chị Phạm Thị Hồng, sinh năm 1962 Trú quán: thôn Hòa An - Tản Lĩnh - Ba Vì - Hà Tây 14. Anh Phạm Văn Thĩ, sinh năm 1960 15. Anh Phạm Văn Lễ, sinh năm 1968 16. Anh Phạm Văn Cầu, sinh năm 1974 Đều trú quán: Thôn Ngõ Bắc - Cổ Đông - Sơn Tây - Hà Tây 17. Chị Nguyễn Thị Liên, sinh năm 1976 18. Anh Phùng Hoàng Nam, sinh năm 1974 19. Anh Nguyễn Văn Thiệu, sinh năm 1968 Đều trú quán: thôn Đậu - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây NỘI DUNG VỤ ÁN Cụ Nguyễn Văn Tuyết chết năm 1953, có hai người vợ: - Vợ cả là cụ Nguyễn Thị Hảo, chết năm 1987, sinh được 5 người con chung gồm: + Bà Nguyễn Thị Mai, chết năm 1954, có chồng là Phạm Văn Lãi, chết năm 2001, có 6 người con là: Phạm Thị Quất, Phạm Văn Lờ, Phạm Văn Thĩ, Phạm Thị Hồng, Phạm Văn Lễ, Phạm Văn Cầu + Ông Nguyễn Văn chính chết năm 1998, có vợ là bà Trương Thị Tuất và 4 người con: Nguyễn Văn Hùng, Nguyễn Thị Thoa, Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Văn Hải. + Bà Nguyễn Thị Lan; + Bà Nguyễn Thị Nương; + Ông Nguyễn Văn Thuận, chết năm 1996, có vợ là bà Trịnh Thị Nga và 2 con là: Nguyễn Thị Thu Hằng và Nguyễn Thị Thu Hà - Vợ 2 là cụ Phùng Thị Thưởng, chết năm 1990, sinh được 2 người con chung là: Nguyễn Trung Trực và ông Nguyễn Văn Tiếp Khi cụ Tiếp còn sống thì vợ chồng cụ Tuyết, cụ Hảo chung sống tại căn nhà 1 gian 2 chái lợp ra tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây, còn cụ Thưởng vẫn sống tại nhà của cha mẹ. Sau khi cụ Tuyết chết thì cha mẹ của cụ Tuyết có cho cụ Thưởng một thửa đất (gần với thửa đất của cụ Hảo đang ở) để làm nhà ở. Khi cụ Tuyết, cụ Hảo và cụ Thưởng chết, đều không có di chúc Ngày 30-10-2003, bà Tuất có đơn khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị Lan trả lại tài sản là đất và cây lâu năm thuộc quyền sở hữu và sử dụng của ông Chinh Theo bà Tuất trình bày: Năm 1971, nhà nước làm mương Đông Mô nên lấy vào 2/3 đất thổ cư của cụ Tuyết và cụ Hảo để làm mương, Ủy ban nhân dân xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây có cấp đền bù cho cụ Hảo thửa đất khác, diện tích là 909m2. Cụ Hảo đã phân chia luôn cho bà Lan sử dụng 517m2, còn ông Chính (chồng của bà) được chia 393m2. Các người con gái của cụ Hảo đã chuyển nguyên vật liệu của ngôi nhà cũ về làm một gian 2 chái trên phần đất chia cho ông Chinh để cho cụ Hảo ở, thời gian này ông chinh công tác tại Ba Vì nên thỉnh thoảng mới về thăm cụ Hảo. Năm 1975, vợ chồng bà đã tháo dỡ nhà và xây lại 3 gian nhà bằng tường đá ong, lợp ra để cụ Hảo ở. Năm 1985, ông Chinh về ở cùng cụ Hảo, đến năm 1987 ông Chinh ốm nên về Ba Vì với vợ con thì cụ Hảo chết. Sau khi cụ Hảo chết một thời gian, ông Chinh đã bán nguyên vật liệu nhà cho người khác dỡ di, trên đất còn lại 3 cây mít, 2 cây trứng gà, 2 dõng chè tươi, ông Chinh gửi bà Lan trông nom hộ. Năm 1997, bà Lan bỏ cây cối và làm nhà cho vợ chồng chị Liên (là con gái bà Lan) ở trên một phần thửa đất của ông Chinh, thời gian đó do ông Chinh đang bị ốm nặng nên có ủy quyền cho anh Nguyễn Văn Việt là con trai về đề nghị với ủy ban nhân dân xã Sơn Đông giải quyết, nhưng gia đình bà Lan không chấp hành. Nay yêu cầu bà Lan trả lại tài sản và xin chia di sản thừa kế của ông Chinh cho bà và các con. Bà Nguyễn Thị Lan trình bày: Năm 1958 bà đi lấy chồng nhưng khoảng hơn 1 năm sau thì bà ly hôn và trở về với cụ Hảo. Quá trình sống chung với cụ Hảo, bà có khai hoang thêm một mảnh đất giáp với đất của bố mẹ. Năm 1971 khi làm mương Đồng Mô đã lấy toàn bộ phần đất bà đã khai hoang và bà được cấp đền bù thửa đất giáp đường liên xã tại thôn Đậu do bà Tâm là Chủ nhiệm hợp tác xã Tây Ninh trực tiếp cấp, có giấy cấp đất nhưng đã bị mối xông hết. Nhà đất của bố mẹ bà ở sát mương Đồng Mô (không bị lấy đất làm mương) thì cụ Hảo và ông Chinh đã bán cho ông Trực. Do cụ Hảo không có chỗ ở nên bà đã đón cụ Hảo về ở cùng, được một thời gian mẹ con có mâu thuẫn, chị em bà đã làm nhà ba gian nhà tường xây đá ong, lợp giấy dầu trên đất của bà để cụ Hảo ở. Ông Chinh có về ở với cụ Hảo một thời gian ngắn nhưng bà vẫn nuôi cụ Hảo. Khi cụ Hảo chết, ông Chinh đã về ở với vợ tại Ba Vì, mọi chi phí lo cho cụ Hảo ba chị em gái lo, vợ chồng ông Chinh không đóng góp. Đất của bà được đền bù, bà đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Chiến chiều ngang 4m sâu hết đất và cho anh Hùng (là con trai ông Chinh) vào làm nhà,thờ cúng tổ tiên. Nay không đồng ý với yêu cầu của bà Tuất. Bà Nguyễn Thị nương xác nhận như lời khai của bà Lan và cho rằng, phần đất bà Lan sử dụng của bà Lan được cấp, còn đất anh Hùng đang sử dụng là đất của bố mẹ để lại, trên đất còn 1 cây mít, 3 cây na do bà Lan trồng khi mẹ còn sống. Nếu chia di sản của bố mẹ bà theo pháp luật thì bà không nhận kỷ phần của mình mà để nguyên cho anh Hùng sử dụng thờ cúng ông bà tổ tiên. Bà Trịnh Thị Nga và chị Nguyễn Thị Thu Hằng, Nguyễn Thị Thu Hà trình bày đất đứng tên ông Chinh mà bà Lan sử dụng thì trả lại cho vợ con ông Chinh nếu chia thừa kế thì nhường kỷ phần cho bà Tuất. Những người con của bà Mai đề nghị nhận kỷ phần của bà Mai. Anh Nguyễn Văn Hùng trình bày: bố anh là ông Nguyễn Văn Chinh để lại tài sản hiện còn 1 cây mít trên diện tích 392m2 đất tại thôn Đậu, anh có xây một bức tường bao bằng gạch ba vanh phía giáp đường liên xã, bà Lan trồng na, chuối trên đất và làm nhà cho con gái ở trên một phần diện tích đất, còn lại anh là con trai trưởng được hưởng thừa kế toàn bộ, mẹ con bà Tuất không có phần, bà Tuất không có trách nhiệm với ông bà nội của anh, không có tình cảm với anh em nhà chồng nên chưa đủ quyền để kiện đòi tài sản. Chị Nguyễn Thị Liên trình bày: Năm 1996 bà Lan cho chị đất làm nhà. Chị đã làm nhà cấp 4 để ở, chị chỉ biết bà Lan cho chị đất còn bà Tuất kiện đòi đất của ông Chinh thì kiện bà Lan. Anh Nguyễn Văn Dũng là con của ông Nguyễn Văn Chiến trình bày: Năm 1991 anh và ông Chiến có mua của bà Lan 120m2 (5m x 20m), việc mua bán 2 bên có làm giấy, gia đình anh đã sử dụng ổn định từ đó cho đến nay, gia đình anh xin tiếp tục sử dụng đất. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 09/DSST ngày 16-9-2004 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây quyết định: Xác nhận tài sản chung của cụ Nguyễn Văn Tuyết và cụ Nguyễn Thị Hảo gồm: 1198,5m2 đất thổ cư (một phần thửa 91 tờ bản đồ số 30 diện tích 120m2 + thửa số 93 tờ bản đồ số 30 diện tích 356,5m2 + thửa số 89 tờ bản đồ số 30 diện tích 356m2) thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây trị giá 369.600.000đ. Tài sản của mỗi cụ là 599,25m2 đất trị giá 184.800.000đ Xác nhận 1 cây mít trị giá 500.000đ trên diện tích đất 356,5m2 thuộc thửa số 93 tờ bản đồ số 30 tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây là tài sản phát triển của cụ Hảo. Xác nhận thời điểm mở thừa kế của cụ Nguyễn Văn Tuyết năm 1953 Xác nhận di sản của cụ Tuyết là 599,25m2 đất thổ cư tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây trị giá 184.800.000đ Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của cụ Tuyết gồm: cụ Nguyễn Thị Hảo, cụ Phùng Thị Thưởng, bà Nguyễn Thị Mai, ông Nguyễn Văn Chinh, bà Nguyễn Thị Lan, bà Nguyễn Thị Nương, ông Nguyễn Văn Thuận, ông Nguyễn Văn Trực, ông Nguyễn Văn Tiếp. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Trực, ông Tiếp không nhận thừa kế. Kỷ phần của mỗi thừa kế của cụ Tuyết là: 30.800.000đ Xác nhận tài sản của cụ Nguyễn Thị Hảo là 216.100.000đ Xác nhận cụ Hảo đã chuyển nhượng quyền sử dụng 366m2 đất thổ cư tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây cho ông Nguyễn Trung Trực trị giá 36.600.000đ Xác nhận phần công sức của bà Nguyễn Thị Lan đối với cụ Nguyễn Thị Hảo là 53.850.000đ. Tài sản của cụ Hảo cho ông chinh, bà Lan mỗi người được là 62.825.000đ Phần ông Chinh được hưởng là 93.625.000đ Phần bà Lan được hưởng là 147.475.000đ Xác nhận bà Lan đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Văn Chiến và anh Nguyễn Văn Dũng 120m2 đất thổ cư tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây trị giá 48.000.000đ Xác nhận thời điểm mở thừa kế của ông Nguyễn Văn Chinh năm 1998. Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của ông Chinh gồm bà Trương Thị Tuất, anh Nguyễn Văn Hùng, chị Nguyễn Thị thoa, anh Nguyễn Văn Việt và anh Nguyễn văn Hải. Cụ thể mỗi thừa kế của ông chinh được hưởng 18.725.000đ Xác nhận thời điểm mở thừa kế của bà Nguyễn Thị Mai năm 1994 Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Văn Thuận năm 1996. Xác nhận hàng thừa kế thứ nhất của ông Thuận gồm: bà Trịnh Thị Nga, chị Nguyễn Thị Thu Hằng và chị Nguyễn Thị Thu Hà. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nga, chị Hằng, chị Hà, chị Thoa, anh Việt, anh Hải cho bà Tuất kỷ phần được hưởng thừa kế. Phần của bà Tuất được hưởng là: 105.700.000đ. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nương cho anh Hùng kỷ phần thừa kế được hưởng của cụ Tuyết. Phần anh hùng được hưởng 49.525.000đ. Chia hiện vật: Gia bà Trương Thị Tuất sở hữu một cây mít trên diện tích đất 255,3m2 thuộc thửa số 93 tờ bản đồ số 30 tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây (có bề mặt giáp đường liên xã 12m, phía sau giáp đất nhà ông chiến 9,5m) trị giá 102.620.000đ. Và sở hữu một bức tường bao giáp ngõ xóm diện tích 35m2 trị giá 700.000đ (do anh Hùng xây), sở hữu một đoạn tường bao giáp đường liên xã diện tích 14,4m2 trị giá 216.000đ (do bà Lan xây), sở hữu 5 cây na, 1 cây ổi, 1 cây nhãn do bà Lan trồng trên đất bà Tuất được giao sử dụng. Tổng trị giá 406.000đ. Bà Tuất phải thanh toán trị giá tài sản cho anh Hùng 700.000đ bà Lan 406.000đ. Giao anh Hùng sử dụng 114,73m2 đất giáp đất của bà Tuất (bề mặt giáp đường lên xã 5,3m, phía sau giáp đất nhà ông chiến 5,25m) một phần thửa 93 + 1 phần thửa 89 tờ bản đồ số 30 trị giá 45,892.00đ và được sở hữu 1 nhà cấp 4 diện tích 41m2, 1 sân láng xi măng diện tích 46,8m2, tổng trị giá 18.039.000đ (do vợ chồng chị Liên xây trên phần đất anh Hùng được giao sử dụng). Nhưng phải thanh toán giá trị tài sản cho vợ chồng chị Liên, anh Nam 18.039.000đ. Được nhận 700.000đ do bà Tuất được sử dụng. Giao bà Lan sử dụng 342,47m2 đất còn lại thuộc thửa 89, tờ bản đồ số 30 tại thôn Đậu, xã Sơn Đông, thị xã Sơn Tây (không kể diện tích đất đã chuyển nhượng cho anh Dũng và ông Chiến) trị giá 136.513.000đ. Cụ thể thanh toán cho anh Lờ, chị Quất, anh Thĩ, anh Lễ, anh Cầu, chị Hồng mỗi người 5.133.300đ. Anh Hùng 3.633.000đ. Bà Tuất 3.080.000đ. Được nhận 406.000đ do bà Tuất thanh toán giá trị tài sản, đối trừ bà Lan còn phải thanh toán cho bà Tuất 2.674.000đ. Ranh giới đất bà Tuất được giao sử dụng phía trước giáp đường liên xã từ chân tường bao (giáp ngõ xóm) kéo về phía nhà bà Lan có độc dài 12m (điểm A) phía sau tính từ chân thương bao giáp ngõ xóm kéo về phía nhà bà Lan có độc dài 9,5m (điểm B) nối 2 điểm A và B bằng 1 đường thẳng (đất của bà Tuất có ký hiệu I). Ranh giới đất anh Hùng được giao sử dụng phía trước được tính từ điểm A kéo về phía nhà bà Lan có độ dài 5.3m (điểm C) phía sau tính từ điểm B kéo về phía nhà bà Lan có độ dài 5,25m (điểm D) nối hai điểm C và D bằng một đường thẳng (đất của anh Hùng được giao có ký hiệu II). Bà Lan được sử dụng phần đất còn lại có ký hiệu III (có sơ đồ minh họa) Ai xây tường ngăn trước phải xây trên phần đất của mình và phải đảm bảo an toàn cho bên kia Bà Tuất phải nộp 5.231.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 50.000đ đã nộp tạm ứng án phí tại BL thu số 004908 ngày 3-11-2003, còn phải nộp 5.181.200đ Bà Lan phải nộp 6.899.000đ án phí dân sự sơ thẩm Anh Hùng phải nộp 2.4976.200đ Chị Quất, anh Lờ, anh Thĩ, anh Lễ, chị Hồng, anh Cầu mỗi người phải nộp 256.600đ án phí dân sự sơ thẩm. Kể từ ngày bà Tuất, anh Hùng, anh Lờ, anh Thĩ, chị Hồng, anh Lễ, anh Cầu, chị Liên và anh Nam có đơn yêu cầu thi hành án, bà Lan, bà Tuất, anh Hùng còn phải chịu lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định trên số tiền tương ứng với thời gian chưa thi hành án. Ngày 29-9-2004, bà Lan có đơn kháng cáo không đồng ý chia thừa kế, toàn bộ thửa đất thuộc quyền sử dụng, quản lý của bà. Tại Bản án dân sự phúc thẩm số 08/DSPT ngày 28-1-2005 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tây quyết định: Sửa án sơ thẩm số 09/DSST ngày 16-9-2004 của Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, cụ thể: - Xác nhận di sản thừa kế của vợ chồng cụ Nguyễn Văn Tuyết, và cụ Nguyễn Thị Hảo là 1.198,5m2 đất thổ cư (một phần thửa số 91, tờ bản đồ số 30, diện tích 366m2 + một phần thửa số 88, tờ bản đồ số 30, diện tích 120m2 + thửa số 93, tờ bản đồ số 30, diện tích 356,5m2 + thửa số 89, tờ bản đồ số 30, diện tích 356m2) tại thôn Đậu - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây, có trị giá 369.600.000đ - Xác nhận một cây mít trị giá 500.000đ là tài sản phát triển của cụ Hảo - Chấp nhận sự tự nguyện của ông Nguyễn Trung Trực, ông Nguyễn Văn Tiếp không yêu cầu hưởng thừa kế của cụ Tuyết trong khối di sản thừa kế của cụ Hảo. - Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Nương, bà Nguyễn Thị Lan, sáu người con của bà Nguyễn Thị Mai (do anh Phạm Văn Lờ đại diện), các thừa kế của ông Nguyễn Văn Chinh (anh Hùng, chị Thoa, anh Việt, anh Hải), các thừa kế của ông Nguyễn Văn Thuận (bà Nga, chị Hằng, chị Hà), không yêu cầu chia khối di sản thừa kế của cụ Thưởng. - Chấp nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Thị Nương nhường kỷ phần thừa kế cho anh Hùng được hưởng. - Chấp nhận sự tự nguyện của bà Trịnh Thị Nga, chị Nguyễn Thị Thu Hằng, chị Nguyễn Thị Thu Hà, chị Nguyễn Thị Thoa, anh Nguyễn Văn Việt, anh Nguyễn Văn Hải nhường kỷ phần thừa kế cho bà Tuất. - Công nhận hợp đồng chuyển nhượng 366m2 đất giữa cụ Hảo với ông Nguyễn Trung Trực - Trích di sản thừa kế của cụ Hảo thanh toán công sức cho bà Lan 53.850.000đ - Xác nhận phần di sản thừa kế của bà Lan được hưởng là 93.625.000đ - Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng 120m2 đất giữa bà Lan và ông Chiến - Xác nhận tổng các kỷ phần thừa kế bà Tuất được hưởng là 105.700.000đ - Xác nhận tổng các kỷ phần thừa kế anh Hùng được hưởng là 49.525.000đ Giữ nguyên cách chia hiện vật như Tòa án nhân dân xã Sơn Tây. Giữa bà Trương Thị Tuất sở hữu 01 cây mít trên diện tích 255,3m2 đất thuộc thửa 93, tờ bản đồ số 30 tại thôn Đậu - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây (có bề mặt giáp đường liên xã dài 12m, phía sau giáp đất nhà ông Chiến dài 9,5m) trị giá 102.620.000đ và sở hữu 01 bức tường bao giáp ngõ xóm diện tích 35m2 trị giá 700.000đ (do anh Hùng xây), sở hữu một đoạn tường bao giáp đường liên xã diện tích 14,4m2 trị giá 216.000đ (do bà Lan xây), sở hữu 05 cây na, 01 cây ổi, 01 cây nhãn do bà Lan trồng trên đất bà Tuất được giao sử dụng, tổng trị giá 406.000đ. Bà Tuất phải thanh toán trị giá tài sản cho anh Hùng 700.000đ, cho bà Lan 406.000đ. Giao anh Hùng sử dụng 114,73m2 đất tiếp giáp đất của bà Tuất (bề mặt giáp đường liên xã dài 5,3m, phía sau giáp đất nhà ông Chiến dài 5,25m), một phần thửa đất số 93 + một phần thửa đất số 89 tờ bản đồ số 30 trị giá 45.892.000đ và được sở hữu 01 nhà cấp 4 diện tích 41m2, 01 sân láng xi măng diện tích 46,8m2 tổng trị giá 18.039.000đ (do vợ chồng chị Liên xây trên phần đất anh Hùng được giao sử dụng). Nhưng phải thanh toán giá trị tài sản cho vợ chồng chị Liên, anh Nam 18.039.000đ và được nhận 700.000đ do bà Tuất thanh toán giá trị tài sản. Buộc anh Hùng phải tháo dỡ 01 nhà cấp 4 diện tích 15m2 do anh xây dựng trái phép trên diện tích đất bà Tuất được sử dụng. Giao bà Lan sử dụng 342,47m2 đất còn lại thuộc thửa 89 tờ bản đồ số 30 tại thôn Đậu - Sơn Đông - Sơn Tây - Hà Tây (không kể diện tích đất đã chuyển nhượng cho anh Dũng và ông Chiến) trị giá 136.988.000đ. Nhưng phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho các thừa kế là 37.513.000đ, cụ thể thanh toán cho anh Lờ, chị Quất, anh Thĩ, anh Lễ, anh Cầu, chị Hồng mỗi người 5.133.300đ, anh Hùng 3.633.000đ, bà Tuất 3.080.000đ và được nhận 406.000đ do bà Tuất thanh toán giá trị tài sản. Đối trừ bà Lan còn phải thanh toán cho bà Tuất 2.674.000đ Ranh giới đất bà Tuất được giao sử dụng phía trước giáp đường liên xã từ chân tường bao (giáp ngõ xóm) kéo về phía nhà bà Lan có độ dài 12m (điểm A) phía sau tính từ chân tường bao giáp ngõ xóm kéo về phía nhà bà Lan có độ dài 9,5m (điểm B), nối hai điểm A và B bằng 1 đường thẳng (đất của bà Tuất có ký hiệu I) Ranh giới đất anh Hùng được giao sử dụng phía trước tính từ điểm A kéo về phía nhà bà Lan có độc dài 5,3m (điểm C), phía sau tính từ điểm B kéo về phía nhà bà Lan có độ dài 5,25m (điểm D), nối hai điểm C và D bằng một đường thẳng (đất của anh Hùng được giao có ký hiệu II) Bà Lan được sử dụng phần đất còn lại có ký hiệu III (có sơ đồ kèm theo) Ai xây tường ngăn trước phải xây trên phần đất của mình và phải đảm bảo an toàn cho bên kia. Án phí: Bà Tuất phải nộp 5.231.200đ án phí dân sự sơ thẩm, được trừ 50.000đ đã nộp tạm ứng án phí (đã nộp tại biên lai thu số 004908 ngày 3-11-2003 tại Đội thi hành án thị xã Sơn Tây), còn phải nộp tiếp 5.181.200đ Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Lan. Hoàn trả bà Lan 50.000đ dự phí phúc thẩm đã nộp tại biên lai thu số 008113 ngày 29-9-2004 tại Đội thi hành án thị xã Sơn Tây Anh Hùng phải nộp 2.476.200đ Chị Quất, anh Lờ, anh Thĩ, anh Lễ, chị Hồng, anh Cầu mỗi người phải nộp 256.600đ Kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn đề nghị thi hành án, thì bên thi hành án phải chịu lãi suất theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định trên số tiền chậm thi hành án. Với vụ án trên, anh (chị) phân tích những vấn đề sau: 1. Quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án. 2. Hoạt động đánh giá chứng cứ trong bản án sơ thẩm và phúc thẩm. YÊU CẦU HỦY KẾT HÔN TRÁI PHÁP LUẬT Nguyên đơn: anh Nguyễn Văn Hùng, sinh năm 1960; Trú tại: Nhà số 226, đường Thánh Thiên, phường Lê Lợi, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Bị đơn: chị Phạm Thị Lộc, sinh năm 1958; Trú tại: Nhà số 4, ngõ 2, đường Huyền Quang, phường Lê Lợi, thị xã Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. NỘI DUNG VỤ VIỆC Ngày 10-5-2000, anh Nguyễn Văn Hùng khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ việc kết hôn giữa anh và chị Phạm Thị Lộc. Theo các lời khai của anh Hùng trong quá trình giải quyết vụ án thì: Anh quen biết chị Lộc từ năm 1992 do chị Lộc là khách hàng thường xuyên lui tới cửa hàng may của anh và hai bên tìm hiểu, có ý định tiến tới hôn nhân. Tháng 10-1995 chị Lộc có đưa cho anh một tờ khai để làm đăng ký kết hôn. Anh đã khai và ký vào tờ khai rồi đưa lại cho chị Lộc nhưng chưa đến Uỷ ban nhân dân phường làm thủ tục đăng ký kết hôn. Về sau, qua bạn bè anh được biết chị Lộc là người không đứng đắn nên đã chấm dứt ý định kết hôn. Khoảng tháng 12-1999 chị Lộc đến nhà anh gây gổ, mang theo con và nói rằng có đăng ký kết hôn với anh, cháu bé là con của anh. Anh đến Uỷ ban nhân dân phường thì mới biết có việc đăng ký kết hôn và chị Lộc đã giả mạo chữ ký của anh để ký vào sổ kết hôn. Theo các lời khai của phía bị đơn là chị Phạm Thị Lộc trong quá trình giải quyết vụ án thì: Chị và anh Hùng đã có thời gian tìm hiểu từ năm 1992, tới năm 1995 hai người quyết định kết hôn nhưng phải giấu gia đình vì chị lớn tuổi hơn anh Hùng nên gia đình anh Hùng không đồng ý. Sau khi làm thủ tục kê khai, chị cùng anh Hùng ra Uỷ ban nhân dân phường Lê Lợi làm thủ tục đăng ký kết hôn. Do không hiểu biết nên chị đã ký thay anh Hùng vào sổ kết hôn. Ngay sau đó, ông Nguyễn Khắc Hà là cán bộ tư pháp phường đã nói ký như vậy là không đúng nhưng cũng không yêu cầu ký lại và vẫn cấp bản đăng ký kết hôn. Giấy chứng nhận kết hôn (số 84 ngày 18-10-1995) do anh Hùng giữ. Cũng theo chị Lộc trình bày: Sau khi kết hôn, chị và anh Hùng lên thị xã Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn chung sống được một tháng thì anh Hùng về Bắc Giang. Chị tiếp tục ở Lạng Sơn ba tháng nữa, anh Hùng lên thăm chị mỗi tháng một tuần. Khi về ở thị xã Bắc Giang, chị và anh Hùng vẫn chưa dám công khai với gia đình nên mỗi người sống một nơi. Cuối năm 1998 chị và anh Hùng quyết định có con chung và ngày 12-8-1999 chị sinh được một cháu gái. Khi sinh con, anh Hùng vẫn đến thăm, chăm sóc mẹ con chị và chính anh Hùng đặt tên cho con là Nguyễn Thị Ngọc Anh. Chị làm khai sinh cho cháu đứng tên bố là Nguyễn Văn Hùng, mẹ là Phạm Thị Lộc. Anh Hùng vẫn không dám thưa chuyện với gia đình nên chị đã trực tiếp đến thưa chuyện. Gia đình anh Hùng vẫn không đồng ý về quan hệ hôn nhân giữa anh Hùng và chị. Ngay sau đó anh Hùng có đơn yêu cầu huỷ hôn nhân với chị. Chị không đồng ý việc xác định quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Hùng là không hợp pháp. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 16/DSST ngày 25-9-2000, Toà án nhân dân thị xã Bắc Giang quyết định: - Huỷ đăng ký kết hôn số 84 ngày 18-10-1995 do Uỷ ban nhân dân phường Lê Lợi, thị xã Bắc Giang cấp cho chị Phạm Thị Lộc (vợ) và anh Nguyễn Văn Hùng (chồng). - Chị Phạm Thị Lộc phải trả cho anh Nguyễn Văn Hùng 180.000 đồng chi phí giám định. án phí: Anh Hùng phải chịu án phí sơ thẩm dân sự. Các bên đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ngày 6-10-2000, chị Lộc kháng cáo: hôn nhân của chị và anh Hùng là hợp pháp, không thể coi việc làm sai thủ tục đăng ký kết hôn của Uỷ ban nhân dân là căn cứ để huỷ đăng ký kết hôn giữa chị và anh Hùng. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 60/DSPT ngày 27-11-2000, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang quyết định: - Về hình thức: chấp nhận đơn kháng cáo của chị Phạm Thị Lộc. - Về nội dung: y án sơ thẩm. 1. Huỷ việc đăng ký kết hôn số 84 ngày 18-10-1995 do Uỷ ban nhân dân phường Lê Lợi, thị xã Bắc Giang, tỉnh Hà Bắc (cũ) nay là tỉnh Bắc Giang tiến hành giữa chị Phạm Thị Lộc và anh Nguyễn Văn Hùng. 2. Chị Phạm Thị Lộc phải hoàn trả cho anh Nguyễn Văn Hùng 180.000 đồng tiền chi phí giám định. 3. Về án phí: anh Nguyễn Văn Hùng phải chịu. Chị Phạm Thị Lộc phải chịu án phí phúc thẩm. Án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật. Với vụ án trên, anh (chị) có nhận xét gì về việc áp dụng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm? Nguồn: Đỗ Văn Đại, Nguyễn Văn Tiến, Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam về tố tụng dân sự, NXB Lao động, năm 2010

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

BÀI TẬP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2013

BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HỆ THỐNG CÂU HỎI - BÀI TẬP ÁP DỤNG VÀ BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Môn học: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH A. HỆ THỐNG CÂU HỎI – BÀI TẬP ÁP DỤNG I. CÂU HỎI Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các câu hỏi sau 1. Phân tích khái niệm gia đình. Mô hình gia đình nào được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân về việc bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng sống chung? 2. Phân tích và nhận xét hiệu quả tác động của phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình qua một số ví dụ. 3. Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc bảo vệ quyền con người? 4. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình với việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan hành chính? 5. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp với việc bảo vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình tại cơ quan hành chính ? 6. Trình bày cơ chế (pháp lý) đảm bảo việc thực hiện quyền kết hôn của con người. 7. Quan điểm cá nhân về thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền kết hôn hiện nay? 8. “Nghị quyết 02/2000/NQ ngày 23.12.2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đậm tính nhân văn”. Qua đường lối giải quyết hôn nhân vi phạm Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, hãy phân tích và chứng minh nhận định trên. 9. So sánh kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng và phân tích cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng 10. Thông qua chế định kết hôn và quan hệ pháp luật giữa vợ - chồng, hãy làm sáng tỏ nguyên tắc “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và vợ chồng bình đẳng” được định hướng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. 11. Quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng được pháp luật hôn nhân và gia đình thừa nhận? Vợ khởi kiện chồng yêu cầu bồi thường thiệt hại thì tòa án có thụ lý không, cơ sở lý giải? 12. Phân tích quyền được đại diện cho nhau giữa vợ và chồng. Khẳng định sự cần thiết trong việc xác định tư cách đại diện vợ chồng - những người “đầu gối tay ấp” theo pháp luật hiện hành. 13. Thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng. Cho ví dụ minh họa? 14. Đánh giá tính khả thi của pháp luật hiện hành trong việc bảo vệ quyền nhân thân của vợ chồng. 15. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với những giao dịch do một bên thực hiện? Ý nghĩa của cơ chế ? 16. Căn cứ và nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng? Phân tích chế độ pháp lý về tài sản chung của vợ chồng. 17. Phân tích chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực, hạn chế của chế định này trong việc bảo vệ quyền con người về tài sản. 18. Căn cứ xác định và chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ hoặc chồng? 19. Quyền định đọat về tài sản riêng của vợ chồng? Pháp định hạn chế quyền định đọat tài sản riêng của vợ chồng tại Khỏan 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có trái với nguyên tắc đảm bảo quyền định đọat về tài sản của con người? Cơ sở lý giải? 20. Phân tích quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật với việc đảm bảo quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng hiện nay. 21. Nguyên tắc, căn cứ hình thức xác định con trong giá thú, con ngoài giá thú? 22. Quan điểm cá nhân về pháp luật thực định trong việc bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em? 23. Trình bày khái niệm, mục đích và ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi. 24. Phân tích các điều kiện nhận nuôi con nuôi và đánh giá cơ chế cho và nhận nuôi con nuôi trong việc đảm bảo quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi theo Luật nuôi con nuôi năm 2010. 25. Giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng có thể phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản nào? Nêu căn cứ phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó. 26. Phân tích nội dung cơ bản của chế định hạn chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên. Đánh giá thực tiễn sự can thiệp của các cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên khi con bị cha mẹ xâm hại? 27. Nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực và hạn chế của chế định chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên trong việc bảo vệ quyền lợi của con. 28. Hôn nhân có thể chấm dứt trong những trường hợp nào? Cho biết sự khác biệt về thời điểm và hậu quả pháp lý trong trường hợp hôn nhân chấm dứt do một bên vợ hoặc chồng chết tự nhiên với trường hợp hôn nhân chấm dứt do tòa án tuyên bố một bên vợ, chồng chết. 29. Quyền ly hôn của con người được pháp luật thừa nhận thế nào? Có thể đại diện trong ly hôn? 30. Trình bày thủ tục tố tụng giải quyết các trường hợp ly hôn nhằm bảo vệ quyền ly hôn của vợ chồng tại tòa án. 31. Việc hạn chế quyền ly hôn: Các trường hợp, điều kiện và mục đích của việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn ? 32. Phân tích các căn cứ cho ly hôn theo pháp luật hiện hành và cho biết quan điểm cá nhân về tính khả thi của các căn cứ cho ly hôn trong thực tiễn. 33. Trình bày đường lối giải quyết chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. 34. Phân biệt nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn với nguyên tắc chia tài sản của hai bên nam nữ khi họ không được công nhận quan hệ vợ chồng. 35. Trình bày khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước mgòai. Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngòai. II. BÀI TẬP ÁP DỤNG 1. Giải quyết tình huống Tình huống1.1 : Anh Tuấn và chị Lâm kết hôn năm 2002. Năm 2008, chị Lâm sang Thái Lan du lịch sau đó tiến hành phẩu thuật chuyển đổi giới tính và trở thành nam giới. Ngỡ ngàng trước sự đổi thay của vợ ngày trở về và mất hết hy vọng vào hôn nhân (việc chị Lâm phẩu chuyển giới tại nước ngoài anh Tuấn không biết trước), anh Tuấn đã nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh và chị Lâm vì theo anh, anh và chị Lâm - hai bên trong quan hệ vợ chồng cùng giới tính. Theo anh, chị, cơ quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao ? Tình huống 1.2: Đủ điều kiện nhưng anh Anh Đăng, sinh ngày 12.01.1970 và chị Vân, sinh ngày 03.07.1971 sống chung như vợ chồng từ năm 1992 tại phường 5, quận 6 thành phố TH mà không đăng ký kết hôn. Họ có con chung là Chi, sinh năm 1993 và có khối tài sản chung trị giá 1 tỷ đồng (do chị Vân quản lý). Đầu năm 2000, quan hệ giữa anh Đăng và chị Vân mâu thuẫn trầm trọng do anh Đăng “thầm thương trộm nhớ” chị Phượng - người láng giềng sinh ngày 10.09.1988 và có hộ khẩu thường trú cùng địa phương với anh. Tháng 12.2004, anh Đăng bàn với chị Phượng cùng đến địa phương khác sống chung. Tại UBND xã KL, huyện NĐ, tỉnh NA nơi chị Phượng đăng ký tạm trú, anh Đăng, chị Phương đã đăng ký kết hôn và họ được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08.06.2005. Cuộc sống của anh Đăng, chị Phượng sau kết hôn hạnh phúc. Hai người có con chung là Quang, sinh ngày 04.12.2005 và cùng tạo dựng được khối tài sản chung trị giá 900 triệu đồng. Ngày 15.03.2006, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện NĐ nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện NĐ huỷ việc kết hôn của anh Đăng và chị Phượng. Hỏi, tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương như thế nào, vì sao? Nếu anh Đăng và chị Vân, anh Đăng và chị Phượng tranh chấp tài sản và không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì tòa án phải giải quyết các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật ? Tình huống 1.3: Tháng 11 năm 1954, ông Thăng kết hôn hợp pháp với bà Linh tại tỉnh Nam Định. Hai người không có tài sản chung và con chung. Tháng 2 năm1955, ông Thăng chuyển vào TPHCM rồi cưới và sống cùng bà Lan. Do bà Lan không có khả năng sinh con và được sự đồng ý của bà, năm 1979, ông Thăng đưa bà Ngọt về sống chung như vợ chồng và có với bà Ngọt hai con chung là Thuận và Hòa. Ông Thăng, bà Lan và bà Ngọt cùng chung sống tại căn nhà số 18A đường H, quận 5, TPHCM. Nhà này do ông Thăng đứng tên, được xây dựng năm 1961 trị giá 4 tỷ đồng. Năm 2007, ông Thăng mất không để lại di chúc. Hỏi: 1.1. Ai là vợ ông Thăng theo pháp luật hiện hành? 1.2. Xác định di sản thừa kế của ông Thăng và cho biết đối tượng được hưởng di sản thừa kế của ông theo tình huống trên. Tình huống 1.4: Ông Bỉnh hỏi, cưới bà Nhị về làm vợ năm 1980. Năm 1981, mẹ đẻ ông Bỉnh lập hợp đồng tặng cho ông Bỉnh, bà Nhị 240 m2 đất tại xã X, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1984, Bà Nhị làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở hữu toàn bộ diện tích đất này. Do bà Nhị không có khả năng sinh con nên năm 1983, ông Bỉnh và bà Nhị nhận chị Chà làm con nuôi (Việc nhận con nuôi này là hợp pháp). Năm 1984, ông Bỉnh đến địa phương khác chung sống với bà Ly như vợ chồng và có với bà Ly một trai là Ngọc. Trong thời gian sống cùng bà Ly, hàng tháng ông Bỉnh vẫn “đi về’ với bà Nhị. Tháng 2.1995, bà Nhị mất. Ông Bỉnh và bà Ly sử dụng một tỷ đồng - số tiền chung mà hai người dành dụm để xây nhà ở trên 240m2 đất tại xã X, phần diện tích đất mà bà Nhị đang đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4. 2003, ông Bỉnh đột tử không để lại di chúc. Chị Chà cho rằng nhà, đất mà bà Ly đang quản lý là di sản thừa kế của cha mẹ nuôi nên chị yêu cầu phân chia (trừ phần quyền sử dụng đất, trị giá nhà thời điểm hiện tại là 2 tỷ đồng). Bà Ly phản đối. Chị Chà khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi. Hỏi: 1. Tòa án có thẩm quyền xác định tính chất quan hệ hôn nhân giữa ông Bỉnh - bà Nhị; ông Bỉnh - bà Ly như thế nào, vì sao? 2. Yêu cầu của chị Chà được giải quyết ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật? (Xác định rõ phần di sản thừa kế mà ông Bỉnh để lại, đối tượng hưởng di sản của ông cũng như phần mà các đối tượng được hưởng). Tình huống 1.5: Anh Trần Thành và chị Hà Mỹ Linh kết hôn năm 2004 tại xã A, huyện B, tỉnh K. Hai năm sau, quan hệ vợ chồng họ rạn nứt do anh Thành nghi ngờ chị Linh không chung thủy (chị Linh là diễn viên một đoàn kịch nói thường đi biểu diễn xa nhà). Thấy hôn nhân khó tiếp tục duy trì, ngày 02.05.2007, chị Linh gửi đơn xin ly hôn anh Thành. TAND huyện B, tỉnh K đã thụ lý giải quyết vụ án. Tại Bản án sơ thẩm số 82/HN - ST (có hiệu lực ngày 10.08 2007), tòa phán quyết: 1. Về hôn nhân: Chị Hà Mỹ Linh được ly hôn anh Trần Thành. 2. Về tài sản chung và con chung: Cả hai bên khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết. Sau ly hôn, ngày 06.10.2007, chị Linh kết hôn với anh Đinh Anh Quân. Ngày 11.03..2008, chị Linh sinh con trai là Dũng. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành, hãy xác định cha của bé trai mà chị Linh sinh ra. 2. Buận luận án 2.1. Xác định quyền sở hữu tài sản NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N tổ chức đám cưới năm 1999, không có đăng ký kết hôn vì chị A chưa đến tuổi đăng ký kết hôn. Đến ngày 31-3-2003, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nhưng không tuân thủ đúng quy định của pháp luật (thiếu chữ ký của anh N trong Giấy chứng nhận kết hôn). Quá trình chung sống của Chị A, anh N đã phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 8/2003, mâu thuẫn căng thẳng, chị A xin ly hôn. Anh A cũng đồng ý ly hôn. – Về con chung: Có 1 con chung là Lâm Bảo N, sinh năm: 2000. Cả hai bên đều có yêu cầu xin được nuôi con. – Về tài sản: Hai bên khai thống nhất có các tài sản gồm: 01 tủ đồng hồ, 01 tủ kiếng nhôm, 01 xe máy Dream Trung Quốc do anh N đứng tên. Theo anh N khai, ngoài những tài sản trên vợ chồng còn có 01 đôi bông 01 chỉ vàng 24K, 02 nhẫn vàng 02 chỉ 24K, 01 bộ vòng 18 chiếc, 01 dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K và 11.997m2 đất nông nghiệp do cha, mẹ vợ cho. Anh N yêu cầu chia tài sản theo pháp luật. Chị A cho rằng trước khi cưới chị đã có bộ vòng 6,5 chỉ 18K, sợi dây chuyền 2,5 chỉ vàng 18K và chiếc lắc tay 4 chỉ vàng 18K. Sau khi cưới, cha mẹ có cho thêm tiền nên chị đã đổi thành bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng và sợi dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K, chiếc lắc tay 5 chỉ vàng 18K, hiện nay 03 loại trang sức này là của riêng chị đang giữ. Còn đất nông nghiệp do chị đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đứng hộ cho cha mẹ chị chứ không phải của vợ chồng chị. Vào năm 2003, chị có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng cho mẹ anh N là bà Dương Thị Hải số tiền 15.000.000 đồng nay chị yêu cầu bà Hải và anh N phải trả 15.000.000 đồng cùng với lãi suất để chị trả nợ cho Ngân hàng. * Ông Nguyễn Văn Suông trình bày: Do gia đình ông có nhiều đất nên có nhờ N đứng tên dùm 11.997m2 đất nông nghiệp chứ không phải cho vợ chồng anh nay yêu cầu trả đất. * Bà Dương Thị Hải thừa nhận có nhờ chị A vay hộ 15.000.000 đồng nay đồng ý trả nợ. * Ngân hàng thương mại và cổ phần Đông Á trình bày: Ngày 5-9-2003 chị A ký khế ước vay 15.000.000 đồng lãi suất 1,2%/năm thời hạn 03 năm có thế chấp quyền sử dụng đất do chị A đứng tên. Nay yêu cầu thực hiện theo hợp đồng. * Tại bản án sơ thẩm số 38/HNST ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn quyết định: Xử: – Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị A với anh Lâm Thế N. Đề nghị Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha thu hồi giấy chứng nhận kết hôn số 62/KH. Quyển số 1/2003 ngày 31/3/2003 giữa anh Lâm Thế N với chị Nguyễn Thị A. – Về con cái: Giao cháu Lâm Bảo N cho anh Lâm Thế N nuôi dạy, chị A không phải cấp dưỡng nuôi con. Nhưng anh A phải tạo điều kiện cho chị Nguyễn Thị A đến thăm con. Khi cần thiết, các bên có thể xin thay đổi người nuôi con. – Về tài sản: Anh Lâm Thế N được chia 6.000.000 đồng (trị giá tài sản) và 8 chỉ 7 phân 5 ly vàng 18K (chị A giao cho anh A). Chị A được chia 6.000.000 đồng (anh A giao cho chị A) và 8 chỉ 7 phân 5 ly vàng 18K. Bác yêu cầu anh Lâm Thế N đòi chia diện tích 11.997m2 đất lúa 2 vụ, do chị A đứng tên quyền sử dụng đất số 01367/QSD đất. Bà Dương Thị Hải trả cho chị A số tiền là 15.000.000 đồng vốn và số lãi để chị A trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á. – Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lâm Thế N chịu 500.000 đồng án phí DSST. + Chị Nguyễn Thị A chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 50.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, tổng cộng là 550.000 đồng (được khấu trừ 50.000 đồng tiền dự phí án của Đội thi hành án huyện Thoại Sơn), nên còn phải nộp 500.000 đồng tiền án phí. Ngày 1-6-2004, anh Lâm Thế N có đơn kháng cáo về tài sản chung gồm một lắc 5 chỉ vàng 18K, bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng 18K, một dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K, đôi bông 1 chỉ vàng 24K, hai chiếc nhẫn mỗi chiếc 01 chỉ vàng 24K một số vàng của con 18K mà chị A giữ. Đất nông nghiệp cha mẹ vợ đã cho vợ chồng anh yêu cầu chia. Ngày 2-6-2004 chị A kháng cáo xin được nuôi con. * Tại bản án phúc thẩm số 51/HNPT ngày 29/7/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định: – Sửa một phần bản án sơ thẩm. – Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N. – Về tài sản: • Anh N được chia những tài sản sau: + 01 chiếc xe Dream Trung Quốc biển số 67H2-8353 do anh A đứng tên, 01 tủ kiếng nhôm, 01 tủ đồng hồ trị giá tổng cộng 12.000.000 đồng. + 3,5 chỉ vàng 18K (do chị A hoàn lại). + 5.997m2 đất nông nghiệp. Anh N phải có nghĩa vụ hoàn lại cho chị A số tiền chênh lệch tài sản là 6.000.000 đồng. • Chị A được chia những tài sản sau: + 6.000.000 đồng do anh N hoàn lại. + 7 chỉ vàng 18K. + 6.000m2 đất nông nghiệp. Chị A phải có nghĩa vụ hoàn lại cho anh N 3,5 chỉ vàng 18K. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01367/QSDĐ là cấp ngày 11-8-2003 diện tích 11.997m2 do chị Nguyễn Thị A đứng tên. Anh Lâm Thế N và chị Nguyễn Thị A có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với phần diện tích đất được chia, cụ thể anh N 5.997m2, chị A 6.000m2. Sau khi xét xử phúc thẩm, chị A có đơn khiếu nại với lý do diện tích 11.997m2 chị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha mẹ chị cho riêng không phải là tài sản chung của vợ chồng. Việc chị và anh N đứng đơn xin xác nhận ngày 3-9-2003 để bổ túc hồ sơ xin vay vốn ngân hàng cho bà Hải chứ không phải căn cứ để xác định chị đã nhập tài sản chung của vợ chồng. Tại quyết định kháng nghị số 153/2005/DS-KN ngày 27-10-2005, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy phần chia tài sản, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm lại. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành, anh chị hãy đánh giá phán quyết của tòa án về: - Việc xác định quyền sở hữu tài sản là diện tích 11.997m2 đất do một bên đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng; - Việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản nhằm đảm bảo quyền con người theo phán quyết của tòa án phúc thẩm. 2.2. Xác định trách nhiệm liên đới phát sinh trong thời kỳ hôn nhân NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Th trình bày: vào ngày 01/5/2006, bà Ng có vay của bà số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất là 1,5% một tháng. Bà Ng có làm biên nhận nợ và có thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc V. Ngày 18/12/2006, do chưa trả nợ nên bà Ng viết một giấy cam kết hẹn ngày 17/01/2007 sẽ trả hết nợ và lãi cho bà. Nhưng đến nay bà Ng không thực hiện cam kết trả nợ nên bà yêu cầu bà Ng cùng ông V liên đới trả số tiền 300.000.000đ vốn và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật là 72.967.000đ. Bị đơn - bà Khương Hồng Ng trình bày: bà thừa nhận việc vay tiền như lời trình bày của bà Th, nhưng số tiền bà vay của bà Th là vay dùm cho em gái bà tên là Khương Hồng Hương; việc vay mượn này chồng bà là ông V không biết. Nay bà không đồng ý trả nợ như yêu cầu của bà Th. Ngoài ra, bà yêu cầu bà Th trả lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà đã thế chấp. Người có quyền lợi liên quan: ông Nguyễn Quốc V trình bày: việc vay nợ và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa vợ ông là bà Ng và bà Th ông không biết nên ông không đồng ý trả nợ như yêu cầu của bà Th; ông yêu cầu bà Th phải trả lại cho ông hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên mà bà Ng đã thế chấp cho bà Th. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DS-ST ngày 03/6/2008, Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh quyết định: - Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Th. - Buộc bà Ng, ông V phải có nghĩa vụ trả cho bà Th số tiền vốn vay là 300.000.000đ và tiền lãi là 72.967.000đ. Tổng cộng là: 372.967.000đ. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Ng và ông V hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc V do UBND huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, lệ và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 16/6/2008, bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc V kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm nêu trên. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định: - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc V. - Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DSST ngày 03/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th. - Buộc bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Th số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng và 72.967.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là: 372.967.000 đồng. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 do Ủy ban nhân dân huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005 và ngày 26/10/2005 do ông Nguyễn Quốc V đứng tên. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, lãi suất chậm trả theo luật định. Ngày 20/10/2008, ông Nguyễn Quốc V có đơn khiếu nại với nội dung không đồng ý liên đới cùng bà Ng trả số tiền 372.967.000 đồng cho bà Th. Tại Quyết định số 445/2010/KG-DS ngày 16/6/2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về phần xác định nghĩa vụ liên đới thanh tóan nợ vay của các bên đương sự . Anh, chị hãy phân tích, bình luận phán quyết của toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm về việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo nội dung vụ án nêu trên.. 2.3. Phân định quyền lợi của con khi cha mẹ ly lôn NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Lê N Sương và anh Kha Tấn Tài quen biết nhau từ năm 1997, đến năm 2002 thì chung sống với nhau như vợ chồng và có một con chung là cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 do chị Sương nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài đã có vợ là chị Tống Thị Bé và 02 con với chị Bé. Chị Lê Thị Sương trước đó đã có chồng và có 02 con, chồng chị Sương đã chết, 02 con chị Sương hiện đang do gia đình bên chồng nuôi dưỡng, chăm sóc (do chị Sương không có nhà ở phải đi thuê không ổn định). Sau khi chị Sương sinh cháu Tín, do chị Bé vợ anh Tài phát hiện và nảy sinh mâu thuẫn nên hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng anh Tài vẫn đi lại thăm nuôi cháu Tín. Ngày 17-3-2006 anh Tài đưa cháu Tín đi khám bệnh rồi đưa đi nuôi dưỡng ở nơi khác, không đưa cháu Tín về cho chị Sương. Ngày 10-4-2006 chị Lê Thị Sương có đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kha Lê Trọng Tín và yêu cầu Toà án buộc anh Kha Tấn Tài phải giao cháu Tín cho chị nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài không đồng ý với yêu cầu của chị Sương với lý do cháu Tín là con chung của anh và chị Sương, do chị Sương hiện tại không có nhà ở, phải đi thuê nhà ở nên không có điều kiện chăm sóc con. Mặt khác do anh là con trai trưởng, có vợ nhưng chỉ sinh con gái, theo phong tục người Hoa nên anh cần có con trai, chính vì vậy mà chị Sương gây nhiều áp lực với anh, mặc dù anh đã cung cấp chu đáo để chị Sương nuôi cháu Tín, chị Sương đe dọa trả thù anh và trút giận lên cháu Tín. Hiện tại chị Sương không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tín nên anh đề nghị được nuôi cháu Tín. Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006, Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 92; Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê N Sương về việc nuôi con; bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi con; chị Lê N Sương nuôi con Kha Lê Trọng Tín sinh ngày 23-01-2003 cho đến khi trưởng thành; chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng; anh Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản; anh Tài có trách nhiệm giao cháu Tín cho chị Sương nuôi dưỡng; tạm giao cháu Tín cho anh Tài quản lý cho đến khi án có hiệu lực. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 11-9-2006 anh Kha Tấn Tài có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 04/2007/HNGĐ-PT ngày 22-01-2007, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp không chấp nhận kháng cáo của anh Kha Tấn Tài, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm như sau: Giao cho chị Lê N Sương được nuôi con là Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho đến khi trưởng thành. Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con. Anh Kha Tấn Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản. Anh Kha Tấn Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho chị Lê N Sương nuôi dưỡng. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Kha Tấn Tài có đơn khiếu nại. Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Sa Đéc có công văn số 28/ĐN-THA ngày 25-01-2008 đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên. Ngày 22-8-2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 114/QĐ-KNGĐT-V5 kháng nghị đề nghị Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006 của Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp và bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ về Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc xét xử lại sơ thẩm lại. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành và đường lối xét xử nêu trên, anh (chị) hãy phân tích, bình luận những vấn đề sau: - Việc xác định người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và thăm nom con khi cha mẹ ly hôn; - Việc áp dụng pháp luật nội dung để phán quyết vấn đề giao con cho một bên nuôi, phán quyết về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn của tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm. (Nguồn: Lê Vĩnh Châu, Lê Thị Mận, Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam về hôn nhân và gia đình, NXB Lao động, năm 2011). B. BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ I. BÀI TẬP CÁ NHÂN BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 1 – TUẦN 3 Chủ đề: Những nguyên tắc chung trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. - Mục tiêu đánh giá • Xác định được những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân - gia đình và nội dung của các nguyên tắc này đối với việc đảm bảo quyền con người trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình. • So sánh các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc cơ bản của các ngành luật nội dung khác như Luật dân sự, Luật Hình sự. • Đánh giá được vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân - gia đình và sự tác động của các nguyên tắc này đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn - gia đình. - Cấu trúc bài tập A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc • Thế nào là nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ 1 điểm • Đặc điểm của nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ 1 điểm • Nội dung cơ bản thể hiện tính nhân quyền trong các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt tính nhân quyền trong các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình với tính nhân quyền trong các nguyên tắc của các ngành luật nội dung khác? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống Chứng minh các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình một cách hữu hiệu. 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 10 điểm BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 – TUẦN 7 Chủ đề: Đảm bảo quyền kết hôn của con người thông qua họat động đăng ký kết hôn - Mục tiêu đánh giá • Nắm được khái niệm đăng ký kết hôn và đánh giá được vai trò và ý nghĩa của họat động đăng ký kết hôn đối với việc bảo vệ quyền kết hôn của con người. • Nhận diện đúng qui định của Luật Hôn nhân và gia đình cùng Nghị định 158/2005 (sửa đổi bởi Nghị định 06/2012) về họat động đăng ký kết hôn nhằm đảm bảo quyền con người. - Cấu trúc bài tập A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc • Khái niệm đăng ký kết hôn và ý nghĩa của nghĩa của họat động đăng ký kết hôn trong việc đảm bảo o đảm quyền kết hôn của con người? 100 từ 1 điểm • Thẩm quyền, nghi thức, thủ tục đăng ký kết hôn? 200 từ đến 300 từ 2 điểm • Cá nhân thực hiện quyền kết hôn của mình thông qua hoạt động đăng ký kết hôn như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện họat động đăng ký kết hôn nhằm đảm bảo quyền kết hôn của con người như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống Bà Nga và ông Hinh chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 tại Long an. Ông bà có con chung là Phương, sinh năm 2000. Năm 2006, do kinh tế gia đình khốn khó, bà Nga đến thành phố Hồ Chí Minh mưu sinh. Thu nhập hàng tháng, bà Nga gửi về để ông Hinh nuôi con. Tháng 5.2010, trong khi bà Nga đang bươn chải kiếm sống xa nhà thì ông Hinh hỏi cưới bà Tâm (bà Tâm đã ly hôn). Ông Hinh, bà Tâm sau đó được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện MH nơi bà Tâm cư trú cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Biết sự tình, bà Nga nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện MH, Long An hủy hôn nhân giữa ông Hinh và bà Tâm với lý giải: i) Ông Hinh là người đang có vợ nên ông Hinh và bà Tâm không có quyền kết hôn; ii) Ủy ban nhân dân xã Q, huyện MH tiến hành đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho ông Hinh và bà Tâm là trái với các qui định về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo anh (chị), quan điểm của bà Nga đúng hay sai, tại sao? 500 từ đến 550 từ 5 điểm Tổng cộng 10 điểm II. Bài tập nhóm tháng (theo nhóm nhỏ) BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 – TUẦN 5 Chủ đề: Tìm hiểu thực tiễn áp dụng: i) Căn cứ và nguyên tắc xác định cha, mẹ, con trong, ngòai giá thú; ii) Căn cứ cho ly hôn thông qua bản án, quyết định của tòa án. Nhận xét tính khả thi của các căn cứ đó trong thực tiễn áp dụng nhằm đảm bảo quyền của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình - Mục tiêu đánh giá • Khả năng trao đổi ý kiến, phối hợp làm việc nhóm; • Khả năng hùng biện trước đám đông; • Hiểu tinh thần pháp luật, nắm được thực tiễn áp dụng pháp luật và có khả năng tổng hợp, phân tích, đánh giá bất cập vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Các bản án, quyết định, tài liệu, hồ sơ vụ, việc nhóm thu thập được; • Báo cáo của nhóm về nội dung của chủ đề cần chuẩn bị (có thể thuyết trình trước lớp nếu có thời gian và lớp ít sinh viên). - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 1 điểm • Nội dung báo cáo trình bày đầy đủ, logic, thuyết phục; • Hình thức báo cáo trình bày rõ ràng và sáng tạo, khả năng hùng biện thuyết phục (nếu có) 5 điểm 2 điểm BÀI TẬP NHÓM SỐ 2 – TUẦN 11 Chủ đề: Xây dựng Bản án ly hôn và quyết định công nhận thuận tình ly hôn ( Tình tiết vụ việc giả định do Giảng viên cung cấp) - Mục tiêu đánh giá • Phối hợp trong làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng nhận diện và phân biệt được các chế định pháp luật hôn nhân gia đình; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận để thực hiện nghiệp vụ thực tiễn nhằm đảm bảo quyền nhân thân và tài sản của vợ chồng, con cái và người thứ ba khi vợ chồng ly hôn. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Bản án sơ thẩm cho ly hôn, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm: hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 1 điểm • Nội dung bản án, quyết định phù hợp, lô gíc và sát với giả định; • Hình thức bản án, quyết định trình bày rõ ràng, chuẩn văn phong pháp lý. 4 điểm 3 điểm III. Bài tập lớn học kỳ (theo nhóm lớn) BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – TUẦN 15 Chủ đề: Thực hiện kỹ năng thực tế 1. Đọc vụ, việc thực tế, nhận diện hành vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình và tư vấn các giải pháp pháp lý (góc độ dân sự, hành chính, hình sự) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ pháp luật. Vụ, việc:  Một ông ba bà, ai là vợ chính thức? http://phapluattp.vn/20110812105534871p1063c1016/mot-ong-ba-ba-ai-la-vo-chinh-thuc.htm.  Không chịu lấy chồng, bị đánh dã man http://phapluattp.vn/2010092710523689p0c1015/khong-chiu-lay-chong-bi-danh-da-man.htm ;  “Bó tay” nhìn chồng cưới vợ http://nld.com.vn/2010060411095751p0c1019/bo-tay-nhin-chong-cuoi-vo.htm  Bố chồng và con dâu đi nhà nghỉ http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2007/12/3b9fdcf3  Con trai đòi tiền công nuôi mẹ 150 triệu đồng http://www.cand.com.vn/vi-VN/khcn/2008/6/93629.cand. 2. Phân tích tính đúng hoặc sai các nhận định trên cơ sở nắm vững pháp luật nội dung (các chế định kết hôn và hủy kết hôn trái pháp luật; quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng; quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con; chấm dứt hôn nhân) - Mục tiêu đánh giá • Phối hợp trong làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng nhận diện và nắm và phân biệt được các chế định pháp luật hôn nhân gia đình để lý giải các nhận định nội dung liên quan; • Nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật và đưa ra đường lối xử lý thích hợp. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ giữa các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Bài báo cáo chủ đề. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Xác định, phân công nhiệm vụ rõ ràng cụ thể giữa các thành viên nhóm; 1 điểm • Giải quyết nhiệm vụ đúng yêu cầu; 1 điểm • Nội dung báo cáo đầy đủ, chuẩn xác, có tính sáng tạo; 6 điểm • Hình thức báo cáo trình bày rõ ràng, chuẩn văn phong pháp lý, lập luận logic. Khả năng hùng biện (nếu có). 2 điểm

BÀI TẬP TỐ TỤNG DÂN SỰ 2013

BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ BỘ MÔN TỐ TỤNG DÂN SỰ-HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH A. HỆ THỐNG CÂU HỎI Chương 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự 1. Khái niệm Luật Tố tụng dân sự. Phân biệt luật Tố tụng dân sự với một số ngành luật có liên quan? 2. Nguồn của Luật Tố tụng dân sự? 3. Phân loại các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự? 4. Nội dung các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự? 5. Luật Tố tụng dân sự và việc bảo vệ quyền con người? Chương 2: Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự 1. Cơ quan tiến hành tố tụng? 2. Người tiến hành tố tụng? 3. Quyền nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng? 4. Thay đổi người tiến hành tố tụng? 5. Năng lực chủ thể của đương sự? 6. Các đương sự: Khái niệm, quyền và nghĩa vụ? 7. Người tham gia tố tụng khác: Khái niệm, quyền và nghĩa vụ? 8. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan tư pháp? Chương 3: Thẩm quyền của Tòa án 1. Khái niệm thẩm quyền, thẩm quyền theo vụ việc, các cấp, lãnh thổ và theo sự lựa chọn? Ý nghĩa của thẩm quyền? 2. Thẩm quyền của Tòa án và việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan tư pháp? 3. Nội dung thẩm quyền theo vụ việc? 4. Nội dung thẩm quyền của Tòa án các cấp? 5. Nội dung thẩm quyền theo lãnh thổ? 6. Nội dung thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn và người yêu cầu? 7. Tranh chấp thẩm quyền và cách giải quyết? Chương 4: Án phí – Lệ phí trong Tố tụng dân sự 1. Khái niệm án phí và ý nghĩa của án phí? 2. Mức án phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và chủ thể chịu án phí? 3. Khái niệm tạm ứng án phí và ý nghĩa của tạm ứng án phí? 4. Mức tạm ứng án phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và chủ thể phải nộp tạm ứng án phí? 5. Xử lý tiền tạm ứng án phí? 6. Khái niệm lệ phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và mức lệ phí? 7. Các loại chi phí tố tụng và người phải nộp? Chương 5: Chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ? 2. Phân biệt chứng cứ và nguồn chứng cứ? 3. Phân loại và ý nghĩa của phân loại chứng cứ? 4. Nguyên tắc xác định chứng cứ 5. Khái niệm chứng minh? 6. Quá trình chứng minh? 7. Chủ thể phạm vi chứng minh? 8. Chứng cứ và chứng minh và việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án? Chương 6: Thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự 1. Quyền khởi kiện và ý nghĩa của quyền khởi kiện? 2. Quyền khởi kiện và việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án? 3. Điều kiện khởi kiện? 4. Thủ tục khởi kiện? 5. Thụ lý và thủ tục thụ lý vụ án dân sự? 6. Trả lại đơn khởi kiện? 7. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 8. Hòa giải: Khái niệm, nguyên tắc, phạm vị, thủ tục hòa giải? 9. Tạm đình chỉ: Khái niệm, căn cứ, hậu quả pháp lý? 10. Đình chỉ: Khái niệm, căn cứ, hậu quả pháp lý? 11. Biện pháp khẩn cấp tạm thời: Khái niệm, các biện pháp, thủ tục áp dụng và hiệu lực thi hành? 12. Khái niệm và ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm? Phiên tòa sơ thẩm và việc bảo vệ quyền con người? 13. Trình tự phiên tòa sơ thẩm? 14. Bản án sơ thẩm? Chương 7: Thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự? 2. Quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và ý nghĩa? 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và việc bảo vệ quyền con người? 4. Trình tự kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm? 5. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm? 6. Phiên tòa phúc thẩm? 7. Quyền hạn của Hội đồng xét xử? 8. Thủ tục phúc thẩm các quyết định? Chương 8: Thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật? 2. Thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và việc bảo vệ quyền con người? 3. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm? 4. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm? 5. Chủ thể kháng nghị? Thời hạn kháng nghị? 6. Hậu quả của việc kháng nghị? 7. Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm? 8. Quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm? 9. Quyền hạn của Hội đồng tái thẩm? Chương 9: Thủ tục giải quyết việc dân sự 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục giải quyết việc dân sự? 2. Bảo vệ quyền con người trong thủ tục giải quyết việc dân sự? 3. Thủ tục sơ thẩm việc dân sự? 4. Thủ tục phúc thẩm việc dân sự? 5. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự? 6. Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú? 7. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích, một người là đã chết? 8. Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài? B. HỆ THỐNG BÀI TẬP I. Bài tập cá nhân BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 1 – TUẦN 3 Chủ đề: Những nguyên tắc chung trong hoạt động tố tụng dân sự. - Mục tiêu đánh giá: • Xác định được những nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự và nội dung của các nguyên tắc này đối với việc đảm bảo quyền con người trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. • So sánh các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự với các nguyên tắc cơ bản của các ngành luật hình thức khác như Luật Tố tụng hành chính, tố tụng hình sự,... • Đánh giá được vai trò và ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự và sự tác động của các nguyên tắc này đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự. - Cấu trúc bài tập: A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc: • Thế nào là nguyên tắc cơ bản của LTTDS? 100 từ 1 điểm • Đặc điểm của nguyên tắc cơ bản LTTDS? 100 từ 1 điểm • Nội dung cơ bản thể hiện tính nhân quyền trong các nguyên tắc của LTTDS? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt tính nhân quyền trong các nguyên tắc của LTTDS với tính nhân quyền trong các nguyên tắc của các ngành luật tố tụng khác? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống: Chứng minh nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong tố tụng dân sự. 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 1000 từ 6 điểm BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 – TUẦN 7 Chủ đề: Hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự . - Mục tiêu đánh giá: • Nhận diện những nội dung cơ bản của Luật Tố tụng dân sự đối với hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. • Tổng hợp và so sánh các biện pháp thu thập chứng cứ do Luật Tố tụng dân sự quy định,... • Đánh giá được vai trò và ý nghĩa của các quy định của Luật Tố tụng dân sự đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Cấu trúc bài tập: A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc: • Các biện pháp thu thập chứng cứ và hoạt động chứng minh của LTTDS? 100 từ 1 điểm • Đặc trưng của hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong LTTDS? 100 từ 1 điểm • Đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt những biện pháp Tòa án thu thập chứng cứ do đương sự yêu cầu với những biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án tự mình chủ động thực hiện? Phân biệt nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống: Trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng (HĐ) thuê nhà giữa chủ nhà là bà X và người thuê nhà là Công ty Y về việc điều chỉnh giá thuê nhà theo HĐ (HĐ quy định sau mỗi năm giá thuê nhà sẽ điều chỉnh theo giá thị trường), Tòa án đã yêu cầu cơ quan hữu quan cho ý kiến về giá thuê nhà tại thời điểm gỉai quyết tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tòa án đồng thời cũng gửi công văn đến một số Doanh nghiệp kinh doanh nhà ở yêu cầu cung cấp thông tin với nội dung tương tự. Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm phản đối các hành vi tố tụng nêu trên của tòa án với lý do tòa án tiến hành thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên các đương sự đã không có sự phản đối các hành vi nêu trên của Tòa án. Nhận xét về hành vi tố tụng nêu trên của Tòa và nêu quan điểm, cơ sở pháp lý về việc có chấp nhận những chứng cứ mà tòa đã thu thập nêu trên hay không? 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 1000 từ 6 điểm II. Bài tập nhóm tháng (theo nhóm nhỏ) BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 – TUẦN 5 Chủ đề: Phân tích và cho ví dụ tình huống minh họa các tiêu chí xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ý nghĩa của cách xác định thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Mục tiêu đánh giá: • Nắm vững cách làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Có khả năng hùng biện trước đám đông; • Nhận diện và có khả năng tổng hợp phân tích lý giải các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự - Sản phẩm đánh giá: • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Các tài liệu nhóm thu thập được (nếu có) hồ sơ vụ án,... • Báo cáo của nhóm về nội dung của chủ đề cần chuẩn bị để thuyết trình trước lớp (Nếu có thời gian và lớp ít sinh viên). - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm): • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 2 điểm • Có ý tưởng sáng tạo trong giải quyết nhiệm vụ; • Báo cáo trình bày mạch lạc, rõ ràng, lập luận logic; • Hình thức trình bày rõ ràng và sáng tạo, khả năng hùng biện thuyết phục (nếu có) 2 điểm 3 điểm 1 điểm BÀI TẬP NHÓM SỐ 2 – TUẦN 11 Chủ đề: Xây dựng bộ hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự. - Mục tiêu đánh giá: • Nắm vững cách làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận với thực tiễn; • Nhận diện và có khả năng tổng hợp phân tích lý giải các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về các điều kiện thực hiện quyền khởi kiện, đảm bảo cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại cho các chủ thể. - Sản phẩm đánh giá: • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Toàn bộ hồ sơ khởi kiện: gồm đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện,... - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm): • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 2 điểm • Có ý tưởng sáng tạo trong giải quyết nhiệm vụ; • Hồ sơ khởi kiện, các tài liệu chứng cứ cần thiết phải nộp ở tại thời điểm nộp đơn; • Hình thức trình bày rõ ràng và sáng tạo trong đơn khởi kiện. 2 điểm 3 điểm 1 điểm III. Bài tập lớn học kỳ (theo nhóm lớn) BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – TUẦN 15 Dự án: Tổ chức phiên tòa tập sự sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự - Mục tiêu đánh giá: • Nắm vững cách làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận với thực tiễn; • Nhận diện và có khả năng thể hiện tốt các vị trí vai trò chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. - Sản phẩm đánh giá: • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Báo cáo tổng kết quá trình chuẩn bị các công việc tổ chức phiên tòa tập sự (giữa các thành viên trong nhóm, và sự tương tác với các nhóm khác..); • Khả năng trình diễn và tổ chức phiên tòa tập sự. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm): • Xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ và phân công chức năng nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể của các thành viên của nhóm; 2 điểm • Tính hiệu quả của công việc nhóm; 2 điểm • Giải quyết nhiệm vụ đầy đủ, đúng yêu cầu; 2 điểm • Có ý tưởng sáng tạo, sử dụng đa dạng các công cụ, thiết bị trong giải quyết nhiệm vụ của nhóm (nếu có); • Có ý tưởng sáng tạo, khả năng diễn xuất sinh động, uyển chuyển; • Có tổ chức, liên kết với các nhóm khác khi tiến hành phiên tòa tập sự. 2 điểm 3 điểm 1 điểm