Biên giới Việt Nam- Campuchia

Dây là biên giới Việt Nam-Campuchia ở Đồng Tháp

Nguyễn văn Tiến

Đại học Luật Tp.HCM

Hình đi hội thảo ở Nha trang

Tôi đang ngồi giữa một bên là một bên là biển và một bên là trường đại học Nha trang

đồng tháp quê hương miền Tây

mời bạn cùng uống cà phê với chúng tôi

Hình kỷ niệm 15 năm thành lập ĐH Luật TPHCM

Mời bạn tham khảo một thoáng về gian hàng trưng bày của khoa Luật Dân sự

Thứ Tư, 2 tháng 1, 2013

BÀI TẬP HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH 2013

BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HỆ THỐNG CÂU HỎI - BÀI TẬP ÁP DỤNG VÀ BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Môn học: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH A. HỆ THỐNG CÂU HỎI – BÀI TẬP ÁP DỤNG I. CÂU HỎI Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các câu hỏi sau 1. Phân tích khái niệm gia đình. Mô hình gia đình nào được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân về việc bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng sống chung? 2. Phân tích và nhận xét hiệu quả tác động của phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình qua một số ví dụ. 3. Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc bảo vệ quyền con người? 4. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình với việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan hành chính? 5. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp với việc bảo vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình tại cơ quan hành chính ? 6. Trình bày cơ chế (pháp lý) đảm bảo việc thực hiện quyền kết hôn của con người. 7. Quan điểm cá nhân về thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền kết hôn hiện nay? 8. “Nghị quyết 02/2000/NQ ngày 23.12.2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đậm tính nhân văn”. Qua đường lối giải quyết hôn nhân vi phạm Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, hãy phân tích và chứng minh nhận định trên. 9. So sánh kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng và phân tích cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng 10. Thông qua chế định kết hôn và quan hệ pháp luật giữa vợ - chồng, hãy làm sáng tỏ nguyên tắc “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và vợ chồng bình đẳng” được định hướng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. 11. Quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng được pháp luật hôn nhân và gia đình thừa nhận? Vợ khởi kiện chồng yêu cầu bồi thường thiệt hại thì tòa án có thụ lý không, cơ sở lý giải? 12. Phân tích quyền được đại diện cho nhau giữa vợ và chồng. Khẳng định sự cần thiết trong việc xác định tư cách đại diện vợ chồng - những người “đầu gối tay ấp” theo pháp luật hiện hành. 13. Thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng. Cho ví dụ minh họa? 14. Đánh giá tính khả thi của pháp luật hiện hành trong việc bảo vệ quyền nhân thân của vợ chồng. 15. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với những giao dịch do một bên thực hiện? Ý nghĩa của cơ chế ? 16. Căn cứ và nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng? Phân tích chế độ pháp lý về tài sản chung của vợ chồng. 17. Phân tích chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực, hạn chế của chế định này trong việc bảo vệ quyền con người về tài sản. 18. Căn cứ xác định và chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ hoặc chồng? 19. Quyền định đọat về tài sản riêng của vợ chồng? Pháp định hạn chế quyền định đọat tài sản riêng của vợ chồng tại Khỏan 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có trái với nguyên tắc đảm bảo quyền định đọat về tài sản của con người? Cơ sở lý giải? 20. Phân tích quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật với việc đảm bảo quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng hiện nay. 21. Nguyên tắc, căn cứ hình thức xác định con trong giá thú, con ngoài giá thú? 22. Quan điểm cá nhân về pháp luật thực định trong việc bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em? 23. Trình bày khái niệm, mục đích và ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi. 24. Phân tích các điều kiện nhận nuôi con nuôi và đánh giá cơ chế cho và nhận nuôi con nuôi trong việc đảm bảo quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi theo Luật nuôi con nuôi năm 2010. 25. Giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng có thể phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản nào? Nêu căn cứ phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó. 26. Phân tích nội dung cơ bản của chế định hạn chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên. Đánh giá thực tiễn sự can thiệp của các cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên khi con bị cha mẹ xâm hại? 27. Nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực và hạn chế của chế định chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên trong việc bảo vệ quyền lợi của con. 28. Hôn nhân có thể chấm dứt trong những trường hợp nào? Cho biết sự khác biệt về thời điểm và hậu quả pháp lý trong trường hợp hôn nhân chấm dứt do một bên vợ hoặc chồng chết tự nhiên với trường hợp hôn nhân chấm dứt do tòa án tuyên bố một bên vợ, chồng chết. 29. Quyền ly hôn của con người được pháp luật thừa nhận thế nào? Có thể đại diện trong ly hôn? 30. Trình bày thủ tục tố tụng giải quyết các trường hợp ly hôn nhằm bảo vệ quyền ly hôn của vợ chồng tại tòa án. 31. Việc hạn chế quyền ly hôn: Các trường hợp, điều kiện và mục đích của việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn ? 32. Phân tích các căn cứ cho ly hôn theo pháp luật hiện hành và cho biết quan điểm cá nhân về tính khả thi của các căn cứ cho ly hôn trong thực tiễn. 33. Trình bày đường lối giải quyết chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. 34. Phân biệt nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn với nguyên tắc chia tài sản của hai bên nam nữ khi họ không được công nhận quan hệ vợ chồng. 35. Trình bày khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước mgòai. Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngòai. II. BÀI TẬP ÁP DỤNG 1. Giải quyết tình huống Tình huống1.1 : Anh Tuấn và chị Lâm kết hôn năm 2002. Năm 2008, chị Lâm sang Thái Lan du lịch sau đó tiến hành phẩu thuật chuyển đổi giới tính và trở thành nam giới. Ngỡ ngàng trước sự đổi thay của vợ ngày trở về và mất hết hy vọng vào hôn nhân (việc chị Lâm phẩu chuyển giới tại nước ngoài anh Tuấn không biết trước), anh Tuấn đã nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh và chị Lâm vì theo anh, anh và chị Lâm - hai bên trong quan hệ vợ chồng cùng giới tính. Theo anh, chị, cơ quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao ? Tình huống 1.2: Đủ điều kiện nhưng anh Anh Đăng, sinh ngày 12.01.1970 và chị Vân, sinh ngày 03.07.1971 sống chung như vợ chồng từ năm 1992 tại phường 5, quận 6 thành phố TH mà không đăng ký kết hôn. Họ có con chung là Chi, sinh năm 1993 và có khối tài sản chung trị giá 1 tỷ đồng (do chị Vân quản lý). Đầu năm 2000, quan hệ giữa anh Đăng và chị Vân mâu thuẫn trầm trọng do anh Đăng “thầm thương trộm nhớ” chị Phượng - người láng giềng sinh ngày 10.09.1988 và có hộ khẩu thường trú cùng địa phương với anh. Tháng 12.2004, anh Đăng bàn với chị Phượng cùng đến địa phương khác sống chung. Tại UBND xã KL, huyện NĐ, tỉnh NA nơi chị Phượng đăng ký tạm trú, anh Đăng, chị Phương đã đăng ký kết hôn và họ được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08.06.2005. Cuộc sống của anh Đăng, chị Phượng sau kết hôn hạnh phúc. Hai người có con chung là Quang, sinh ngày 04.12.2005 và cùng tạo dựng được khối tài sản chung trị giá 900 triệu đồng. Ngày 15.03.2006, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện NĐ nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện NĐ huỷ việc kết hôn của anh Đăng và chị Phượng. Hỏi, tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương như thế nào, vì sao? Nếu anh Đăng và chị Vân, anh Đăng và chị Phượng tranh chấp tài sản và không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì tòa án phải giải quyết các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật ? Tình huống 1.3: Tháng 11 năm 1954, ông Thăng kết hôn hợp pháp với bà Linh tại tỉnh Nam Định. Hai người không có tài sản chung và con chung. Tháng 2 năm1955, ông Thăng chuyển vào TPHCM rồi cưới và sống cùng bà Lan. Do bà Lan không có khả năng sinh con và được sự đồng ý của bà, năm 1979, ông Thăng đưa bà Ngọt về sống chung như vợ chồng và có với bà Ngọt hai con chung là Thuận và Hòa. Ông Thăng, bà Lan và bà Ngọt cùng chung sống tại căn nhà số 18A đường H, quận 5, TPHCM. Nhà này do ông Thăng đứng tên, được xây dựng năm 1961 trị giá 4 tỷ đồng. Năm 2007, ông Thăng mất không để lại di chúc. Hỏi: 1.1. Ai là vợ ông Thăng theo pháp luật hiện hành? 1.2. Xác định di sản thừa kế của ông Thăng và cho biết đối tượng được hưởng di sản thừa kế của ông theo tình huống trên. Tình huống 1.4: Ông Bỉnh hỏi, cưới bà Nhị về làm vợ năm 1980. Năm 1981, mẹ đẻ ông Bỉnh lập hợp đồng tặng cho ông Bỉnh, bà Nhị 240 m2 đất tại xã X, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1984, Bà Nhị làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở hữu toàn bộ diện tích đất này. Do bà Nhị không có khả năng sinh con nên năm 1983, ông Bỉnh và bà Nhị nhận chị Chà làm con nuôi (Việc nhận con nuôi này là hợp pháp). Năm 1984, ông Bỉnh đến địa phương khác chung sống với bà Ly như vợ chồng và có với bà Ly một trai là Ngọc. Trong thời gian sống cùng bà Ly, hàng tháng ông Bỉnh vẫn “đi về’ với bà Nhị. Tháng 2.1995, bà Nhị mất. Ông Bỉnh và bà Ly sử dụng một tỷ đồng - số tiền chung mà hai người dành dụm để xây nhà ở trên 240m2 đất tại xã X, phần diện tích đất mà bà Nhị đang đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4. 2003, ông Bỉnh đột tử không để lại di chúc. Chị Chà cho rằng nhà, đất mà bà Ly đang quản lý là di sản thừa kế của cha mẹ nuôi nên chị yêu cầu phân chia (trừ phần quyền sử dụng đất, trị giá nhà thời điểm hiện tại là 2 tỷ đồng). Bà Ly phản đối. Chị Chà khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi. Hỏi: 1. Tòa án có thẩm quyền xác định tính chất quan hệ hôn nhân giữa ông Bỉnh - bà Nhị; ông Bỉnh - bà Ly như thế nào, vì sao? 2. Yêu cầu của chị Chà được giải quyết ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật? (Xác định rõ phần di sản thừa kế mà ông Bỉnh để lại, đối tượng hưởng di sản của ông cũng như phần mà các đối tượng được hưởng). Tình huống 1.5: Anh Trần Thành và chị Hà Mỹ Linh kết hôn năm 2004 tại xã A, huyện B, tỉnh K. Hai năm sau, quan hệ vợ chồng họ rạn nứt do anh Thành nghi ngờ chị Linh không chung thủy (chị Linh là diễn viên một đoàn kịch nói thường đi biểu diễn xa nhà). Thấy hôn nhân khó tiếp tục duy trì, ngày 02.05.2007, chị Linh gửi đơn xin ly hôn anh Thành. TAND huyện B, tỉnh K đã thụ lý giải quyết vụ án. Tại Bản án sơ thẩm số 82/HN - ST (có hiệu lực ngày 10.08 2007), tòa phán quyết: 1. Về hôn nhân: Chị Hà Mỹ Linh được ly hôn anh Trần Thành. 2. Về tài sản chung và con chung: Cả hai bên khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết. Sau ly hôn, ngày 06.10.2007, chị Linh kết hôn với anh Đinh Anh Quân. Ngày 11.03..2008, chị Linh sinh con trai là Dũng. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành, hãy xác định cha của bé trai mà chị Linh sinh ra. 2. Buận luận án 2.1. Xác định quyền sở hữu tài sản NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N tổ chức đám cưới năm 1999, không có đăng ký kết hôn vì chị A chưa đến tuổi đăng ký kết hôn. Đến ngày 31-3-2003, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nhưng không tuân thủ đúng quy định của pháp luật (thiếu chữ ký của anh N trong Giấy chứng nhận kết hôn). Quá trình chung sống của Chị A, anh N đã phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 8/2003, mâu thuẫn căng thẳng, chị A xin ly hôn. Anh A cũng đồng ý ly hôn. – Về con chung: Có 1 con chung là Lâm Bảo N, sinh năm: 2000. Cả hai bên đều có yêu cầu xin được nuôi con. – Về tài sản: Hai bên khai thống nhất có các tài sản gồm: 01 tủ đồng hồ, 01 tủ kiếng nhôm, 01 xe máy Dream Trung Quốc do anh N đứng tên. Theo anh N khai, ngoài những tài sản trên vợ chồng còn có 01 đôi bông 01 chỉ vàng 24K, 02 nhẫn vàng 02 chỉ 24K, 01 bộ vòng 18 chiếc, 01 dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K và 11.997m2 đất nông nghiệp do cha, mẹ vợ cho. Anh N yêu cầu chia tài sản theo pháp luật. Chị A cho rằng trước khi cưới chị đã có bộ vòng 6,5 chỉ 18K, sợi dây chuyền 2,5 chỉ vàng 18K và chiếc lắc tay 4 chỉ vàng 18K. Sau khi cưới, cha mẹ có cho thêm tiền nên chị đã đổi thành bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng và sợi dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K, chiếc lắc tay 5 chỉ vàng 18K, hiện nay 03 loại trang sức này là của riêng chị đang giữ. Còn đất nông nghiệp do chị đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đứng hộ cho cha mẹ chị chứ không phải của vợ chồng chị. Vào năm 2003, chị có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng cho mẹ anh N là bà Dương Thị Hải số tiền 15.000.000 đồng nay chị yêu cầu bà Hải và anh N phải trả 15.000.000 đồng cùng với lãi suất để chị trả nợ cho Ngân hàng. * Ông Nguyễn Văn Suông trình bày: Do gia đình ông có nhiều đất nên có nhờ N đứng tên dùm 11.997m2 đất nông nghiệp chứ không phải cho vợ chồng anh nay yêu cầu trả đất. * Bà Dương Thị Hải thừa nhận có nhờ chị A vay hộ 15.000.000 đồng nay đồng ý trả nợ. * Ngân hàng thương mại và cổ phần Đông Á trình bày: Ngày 5-9-2003 chị A ký khế ước vay 15.000.000 đồng lãi suất 1,2%/năm thời hạn 03 năm có thế chấp quyền sử dụng đất do chị A đứng tên. Nay yêu cầu thực hiện theo hợp đồng. * Tại bản án sơ thẩm số 38/HNST ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn quyết định: Xử: – Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị A với anh Lâm Thế N. Đề nghị Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha thu hồi giấy chứng nhận kết hôn số 62/KH. Quyển số 1/2003 ngày 31/3/2003 giữa anh Lâm Thế N với chị Nguyễn Thị A. – Về con cái: Giao cháu Lâm Bảo N cho anh Lâm Thế N nuôi dạy, chị A không phải cấp dưỡng nuôi con. Nhưng anh A phải tạo điều kiện cho chị Nguyễn Thị A đến thăm con. Khi cần thiết, các bên có thể xin thay đổi người nuôi con. – Về tài sản: Anh Lâm Thế N được chia 6.000.000 đồng (trị giá tài sản) và 8 chỉ 7 phân 5 ly vàng 18K (chị A giao cho anh A). Chị A được chia 6.000.000 đồng (anh A giao cho chị A) và 8 chỉ 7 phân 5 ly vàng 18K. Bác yêu cầu anh Lâm Thế N đòi chia diện tích 11.997m2 đất lúa 2 vụ, do chị A đứng tên quyền sử dụng đất số 01367/QSD đất. Bà Dương Thị Hải trả cho chị A số tiền là 15.000.000 đồng vốn và số lãi để chị A trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á. – Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lâm Thế N chịu 500.000 đồng án phí DSST. + Chị Nguyễn Thị A chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 50.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, tổng cộng là 550.000 đồng (được khấu trừ 50.000 đồng tiền dự phí án của Đội thi hành án huyện Thoại Sơn), nên còn phải nộp 500.000 đồng tiền án phí. Ngày 1-6-2004, anh Lâm Thế N có đơn kháng cáo về tài sản chung gồm một lắc 5 chỉ vàng 18K, bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng 18K, một dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K, đôi bông 1 chỉ vàng 24K, hai chiếc nhẫn mỗi chiếc 01 chỉ vàng 24K một số vàng của con 18K mà chị A giữ. Đất nông nghiệp cha mẹ vợ đã cho vợ chồng anh yêu cầu chia. Ngày 2-6-2004 chị A kháng cáo xin được nuôi con. * Tại bản án phúc thẩm số 51/HNPT ngày 29/7/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định: – Sửa một phần bản án sơ thẩm. – Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N. – Về tài sản: • Anh N được chia những tài sản sau: + 01 chiếc xe Dream Trung Quốc biển số 67H2-8353 do anh A đứng tên, 01 tủ kiếng nhôm, 01 tủ đồng hồ trị giá tổng cộng 12.000.000 đồng. + 3,5 chỉ vàng 18K (do chị A hoàn lại). + 5.997m2 đất nông nghiệp. Anh N phải có nghĩa vụ hoàn lại cho chị A số tiền chênh lệch tài sản là 6.000.000 đồng. • Chị A được chia những tài sản sau: + 6.000.000 đồng do anh N hoàn lại. + 7 chỉ vàng 18K. + 6.000m2 đất nông nghiệp. Chị A phải có nghĩa vụ hoàn lại cho anh N 3,5 chỉ vàng 18K. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01367/QSDĐ là cấp ngày 11-8-2003 diện tích 11.997m2 do chị Nguyễn Thị A đứng tên. Anh Lâm Thế N và chị Nguyễn Thị A có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với phần diện tích đất được chia, cụ thể anh N 5.997m2, chị A 6.000m2. Sau khi xét xử phúc thẩm, chị A có đơn khiếu nại với lý do diện tích 11.997m2 chị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha mẹ chị cho riêng không phải là tài sản chung của vợ chồng. Việc chị và anh N đứng đơn xin xác nhận ngày 3-9-2003 để bổ túc hồ sơ xin vay vốn ngân hàng cho bà Hải chứ không phải căn cứ để xác định chị đã nhập tài sản chung của vợ chồng. Tại quyết định kháng nghị số 153/2005/DS-KN ngày 27-10-2005, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy phần chia tài sản, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm lại. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành, anh chị hãy đánh giá phán quyết của tòa án về: - Việc xác định quyền sở hữu tài sản là diện tích 11.997m2 đất do một bên đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng; - Việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản nhằm đảm bảo quyền con người theo phán quyết của tòa án phúc thẩm. 2.2. Xác định trách nhiệm liên đới phát sinh trong thời kỳ hôn nhân NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Th trình bày: vào ngày 01/5/2006, bà Ng có vay của bà số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất là 1,5% một tháng. Bà Ng có làm biên nhận nợ và có thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc V. Ngày 18/12/2006, do chưa trả nợ nên bà Ng viết một giấy cam kết hẹn ngày 17/01/2007 sẽ trả hết nợ và lãi cho bà. Nhưng đến nay bà Ng không thực hiện cam kết trả nợ nên bà yêu cầu bà Ng cùng ông V liên đới trả số tiền 300.000.000đ vốn và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật là 72.967.000đ. Bị đơn - bà Khương Hồng Ng trình bày: bà thừa nhận việc vay tiền như lời trình bày của bà Th, nhưng số tiền bà vay của bà Th là vay dùm cho em gái bà tên là Khương Hồng Hương; việc vay mượn này chồng bà là ông V không biết. Nay bà không đồng ý trả nợ như yêu cầu của bà Th. Ngoài ra, bà yêu cầu bà Th trả lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà đã thế chấp. Người có quyền lợi liên quan: ông Nguyễn Quốc V trình bày: việc vay nợ và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa vợ ông là bà Ng và bà Th ông không biết nên ông không đồng ý trả nợ như yêu cầu của bà Th; ông yêu cầu bà Th phải trả lại cho ông hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên mà bà Ng đã thế chấp cho bà Th. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DS-ST ngày 03/6/2008, Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh quyết định: - Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Th. - Buộc bà Ng, ông V phải có nghĩa vụ trả cho bà Th số tiền vốn vay là 300.000.000đ và tiền lãi là 72.967.000đ. Tổng cộng là: 372.967.000đ. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Ng và ông V hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc V do UBND huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, lệ và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 16/6/2008, bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc V kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm nêu trên. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định: - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc V. - Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DSST ngày 03/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th. - Buộc bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Th số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng và 72.967.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là: 372.967.000 đồng. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 do Ủy ban nhân dân huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005 và ngày 26/10/2005 do ông Nguyễn Quốc V đứng tên. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, lãi suất chậm trả theo luật định. Ngày 20/10/2008, ông Nguyễn Quốc V có đơn khiếu nại với nội dung không đồng ý liên đới cùng bà Ng trả số tiền 372.967.000 đồng cho bà Th. Tại Quyết định số 445/2010/KG-DS ngày 16/6/2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về phần xác định nghĩa vụ liên đới thanh tóan nợ vay của các bên đương sự . Anh, chị hãy phân tích, bình luận phán quyết của toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm về việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo nội dung vụ án nêu trên.. 2.3. Phân định quyền lợi của con khi cha mẹ ly lôn NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Lê N Sương và anh Kha Tấn Tài quen biết nhau từ năm 1997, đến năm 2002 thì chung sống với nhau như vợ chồng và có một con chung là cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 do chị Sương nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài đã có vợ là chị Tống Thị Bé và 02 con với chị Bé. Chị Lê Thị Sương trước đó đã có chồng và có 02 con, chồng chị Sương đã chết, 02 con chị Sương hiện đang do gia đình bên chồng nuôi dưỡng, chăm sóc (do chị Sương không có nhà ở phải đi thuê không ổn định). Sau khi chị Sương sinh cháu Tín, do chị Bé vợ anh Tài phát hiện và nảy sinh mâu thuẫn nên hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng anh Tài vẫn đi lại thăm nuôi cháu Tín. Ngày 17-3-2006 anh Tài đưa cháu Tín đi khám bệnh rồi đưa đi nuôi dưỡng ở nơi khác, không đưa cháu Tín về cho chị Sương. Ngày 10-4-2006 chị Lê Thị Sương có đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kha Lê Trọng Tín và yêu cầu Toà án buộc anh Kha Tấn Tài phải giao cháu Tín cho chị nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài không đồng ý với yêu cầu của chị Sương với lý do cháu Tín là con chung của anh và chị Sương, do chị Sương hiện tại không có nhà ở, phải đi thuê nhà ở nên không có điều kiện chăm sóc con. Mặt khác do anh là con trai trưởng, có vợ nhưng chỉ sinh con gái, theo phong tục người Hoa nên anh cần có con trai, chính vì vậy mà chị Sương gây nhiều áp lực với anh, mặc dù anh đã cung cấp chu đáo để chị Sương nuôi cháu Tín, chị Sương đe dọa trả thù anh và trút giận lên cháu Tín. Hiện tại chị Sương không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tín nên anh đề nghị được nuôi cháu Tín. Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006, Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 92; Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê N Sương về việc nuôi con; bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi con; chị Lê N Sương nuôi con Kha Lê Trọng Tín sinh ngày 23-01-2003 cho đến khi trưởng thành; chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng; anh Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản; anh Tài có trách nhiệm giao cháu Tín cho chị Sương nuôi dưỡng; tạm giao cháu Tín cho anh Tài quản lý cho đến khi án có hiệu lực. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 11-9-2006 anh Kha Tấn Tài có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 04/2007/HNGĐ-PT ngày 22-01-2007, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp không chấp nhận kháng cáo của anh Kha Tấn Tài, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm như sau: Giao cho chị Lê N Sương được nuôi con là Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho đến khi trưởng thành. Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con. Anh Kha Tấn Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản. Anh Kha Tấn Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho chị Lê N Sương nuôi dưỡng. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Kha Tấn Tài có đơn khiếu nại. Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Sa Đéc có công văn số 28/ĐN-THA ngày 25-01-2008 đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên. Ngày 22-8-2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 114/QĐ-KNGĐT-V5 kháng nghị đề nghị Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006 của Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp và bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ về Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc xét xử lại sơ thẩm lại. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành và đường lối xét xử nêu trên, anh (chị) hãy phân tích, bình luận những vấn đề sau: - Việc xác định người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và thăm nom con khi cha mẹ ly hôn; - Việc áp dụng pháp luật nội dung để phán quyết vấn đề giao con cho một bên nuôi, phán quyết về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn của tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm. (Nguồn: Lê Vĩnh Châu, Lê Thị Mận, Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam về hôn nhân và gia đình, NXB Lao động, năm 2011). B. BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ I. BÀI TẬP CÁ NHÂN BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 1 – TUẦN 3 Chủ đề: Những nguyên tắc chung trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. - Mục tiêu đánh giá • Xác định được những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân - gia đình và nội dung của các nguyên tắc này đối với việc đảm bảo quyền con người trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình. • So sánh các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc cơ bản của các ngành luật nội dung khác như Luật dân sự, Luật Hình sự. • Đánh giá được vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân - gia đình và sự tác động của các nguyên tắc này đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn - gia đình. - Cấu trúc bài tập A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc • Thế nào là nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ 1 điểm • Đặc điểm của nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ 1 điểm • Nội dung cơ bản thể hiện tính nhân quyền trong các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt tính nhân quyền trong các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình với tính nhân quyền trong các nguyên tắc của các ngành luật nội dung khác? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống Chứng minh các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình một cách hữu hiệu. 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 10 điểm BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 – TUẦN 7 Chủ đề: Đảm bảo quyền kết hôn của con người thông qua họat động đăng ký kết hôn - Mục tiêu đánh giá • Nắm được khái niệm đăng ký kết hôn và đánh giá được vai trò và ý nghĩa của họat động đăng ký kết hôn đối với việc bảo vệ quyền kết hôn của con người. • Nhận diện đúng qui định của Luật Hôn nhân và gia đình cùng Nghị định 158/2005 (sửa đổi bởi Nghị định 06/2012) về họat động đăng ký kết hôn nhằm đảm bảo quyền con người. - Cấu trúc bài tập A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc • Khái niệm đăng ký kết hôn và ý nghĩa của nghĩa của họat động đăng ký kết hôn trong việc đảm bảo o đảm quyền kết hôn của con người? 100 từ 1 điểm • Thẩm quyền, nghi thức, thủ tục đăng ký kết hôn? 200 từ đến 300 từ 2 điểm • Cá nhân thực hiện quyền kết hôn của mình thông qua hoạt động đăng ký kết hôn như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện họat động đăng ký kết hôn nhằm đảm bảo quyền kết hôn của con người như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống Bà Nga và ông Hinh chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 tại Long an. Ông bà có con chung là Phương, sinh năm 2000. Năm 2006, do kinh tế gia đình khốn khó, bà Nga đến thành phố Hồ Chí Minh mưu sinh. Thu nhập hàng tháng, bà Nga gửi về để ông Hinh nuôi con. Tháng 5.2010, trong khi bà Nga đang bươn chải kiếm sống xa nhà thì ông Hinh hỏi cưới bà Tâm (bà Tâm đã ly hôn). Ông Hinh, bà Tâm sau đó được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện MH nơi bà Tâm cư trú cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Biết sự tình, bà Nga nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện MH, Long An hủy hôn nhân giữa ông Hinh và bà Tâm với lý giải: i) Ông Hinh là người đang có vợ nên ông Hinh và bà Tâm không có quyền kết hôn; ii) Ủy ban nhân dân xã Q, huyện MH tiến hành đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho ông Hinh và bà Tâm là trái với các qui định về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo anh (chị), quan điểm của bà Nga đúng hay sai, tại sao? 500 từ đến 550 từ 5 điểm Tổng cộng 10 điểm II. Bài tập nhóm tháng (theo nhóm nhỏ) BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 – TUẦN 5 Chủ đề: Tìm hiểu thực tiễn áp dụng: i) Căn cứ và nguyên tắc xác định cha, mẹ, con trong, ngòai giá thú; ii) Căn cứ cho ly hôn thông qua bản án, quyết định của tòa án. Nhận xét tính khả thi của các căn cứ đó trong thực tiễn áp dụng nhằm đảm bảo quyền của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình - Mục tiêu đánh giá • Khả năng trao đổi ý kiến, phối hợp làm việc nhóm; • Khả năng hùng biện trước đám đông; • Hiểu tinh thần pháp luật, nắm được thực tiễn áp dụng pháp luật và có khả năng tổng hợp, phân tích, đánh giá bất cập vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Các bản án, quyết định, tài liệu, hồ sơ vụ, việc nhóm thu thập được; • Báo cáo của nhóm về nội dung của chủ đề cần chuẩn bị (có thể thuyết trình trước lớp nếu có thời gian và lớp ít sinh viên). - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 1 điểm • Nội dung báo cáo trình bày đầy đủ, logic, thuyết phục; • Hình thức báo cáo trình bày rõ ràng và sáng tạo, khả năng hùng biện thuyết phục (nếu có) 5 điểm 2 điểm BÀI TẬP NHÓM SỐ 2 – TUẦN 11 Chủ đề: Xây dựng Bản án ly hôn và quyết định công nhận thuận tình ly hôn ( Tình tiết vụ việc giả định do Giảng viên cung cấp) - Mục tiêu đánh giá • Phối hợp trong làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng nhận diện và phân biệt được các chế định pháp luật hôn nhân gia đình; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận để thực hiện nghiệp vụ thực tiễn nhằm đảm bảo quyền nhân thân và tài sản của vợ chồng, con cái và người thứ ba khi vợ chồng ly hôn. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Bản án sơ thẩm cho ly hôn, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm: hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 1 điểm • Nội dung bản án, quyết định phù hợp, lô gíc và sát với giả định; • Hình thức bản án, quyết định trình bày rõ ràng, chuẩn văn phong pháp lý. 4 điểm 3 điểm III. Bài tập lớn học kỳ (theo nhóm lớn) BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – TUẦN 15 Chủ đề: Thực hiện kỹ năng thực tế 1. Đọc vụ, việc thực tế, nhận diện hành vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình và tư vấn các giải pháp pháp lý (góc độ dân sự, hành chính, hình sự) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ pháp luật. Vụ, việc:  Một ông ba bà, ai là vợ chính thức? http://phapluattp.vn/20110812105534871p1063c1016/mot-ong-ba-ba-ai-la-vo-chinh-thuc.htm.  Không chịu lấy chồng, bị đánh dã man http://phapluattp.vn/2010092710523689p0c1015/khong-chiu-lay-chong-bi-danh-da-man.htm ;  “Bó tay” nhìn chồng cưới vợ http://nld.com.vn/2010060411095751p0c1019/bo-tay-nhin-chong-cuoi-vo.htm  Bố chồng và con dâu đi nhà nghỉ http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2007/12/3b9fdcf3  Con trai đòi tiền công nuôi mẹ 150 triệu đồng http://www.cand.com.vn/vi-VN/khcn/2008/6/93629.cand. 2. Phân tích tính đúng hoặc sai các nhận định trên cơ sở nắm vững pháp luật nội dung (các chế định kết hôn và hủy kết hôn trái pháp luật; quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng; quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con; chấm dứt hôn nhân) - Mục tiêu đánh giá • Phối hợp trong làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng nhận diện và nắm và phân biệt được các chế định pháp luật hôn nhân gia đình để lý giải các nhận định nội dung liên quan; • Nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật và đưa ra đường lối xử lý thích hợp. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ giữa các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Bài báo cáo chủ đề. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Xác định, phân công nhiệm vụ rõ ràng cụ thể giữa các thành viên nhóm; 1 điểm • Giải quyết nhiệm vụ đúng yêu cầu; 1 điểm • Nội dung báo cáo đầy đủ, chuẩn xác, có tính sáng tạo; 6 điểm • Hình thức báo cáo trình bày rõ ràng, chuẩn văn phong pháp lý, lập luận logic. Khả năng hùng biện (nếu có). 2 điểm

BÀI TẬP TỐ TỤNG DÂN SỰ 2013

BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ BỘ MÔN TỐ TỤNG DÂN SỰ-HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH A. HỆ THỐNG CÂU HỎI Chương 1: Khái niệm và các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự 1. Khái niệm Luật Tố tụng dân sự. Phân biệt luật Tố tụng dân sự với một số ngành luật có liên quan? 2. Nguồn của Luật Tố tụng dân sự? 3. Phân loại các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự? 4. Nội dung các nguyên tắc của Luật Tố tụng dân sự? 5. Luật Tố tụng dân sự và việc bảo vệ quyền con người? Chương 2: Địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự 1. Cơ quan tiến hành tố tụng? 2. Người tiến hành tố tụng? 3. Quyền nghĩa vụ của người tiến hành tố tụng? 4. Thay đổi người tiến hành tố tụng? 5. Năng lực chủ thể của đương sự? 6. Các đương sự: Khái niệm, quyền và nghĩa vụ? 7. Người tham gia tố tụng khác: Khái niệm, quyền và nghĩa vụ? 8. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật tố tụng dân sự và việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan tư pháp? Chương 3: Thẩm quyền của Tòa án 1. Khái niệm thẩm quyền, thẩm quyền theo vụ việc, các cấp, lãnh thổ và theo sự lựa chọn? Ý nghĩa của thẩm quyền? 2. Thẩm quyền của Tòa án và việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan tư pháp? 3. Nội dung thẩm quyền theo vụ việc? 4. Nội dung thẩm quyền của Tòa án các cấp? 5. Nội dung thẩm quyền theo lãnh thổ? 6. Nội dung thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn và người yêu cầu? 7. Tranh chấp thẩm quyền và cách giải quyết? Chương 4: Án phí – Lệ phí trong Tố tụng dân sự 1. Khái niệm án phí và ý nghĩa của án phí? 2. Mức án phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và chủ thể chịu án phí? 3. Khái niệm tạm ứng án phí và ý nghĩa của tạm ứng án phí? 4. Mức tạm ứng án phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và chủ thể phải nộp tạm ứng án phí? 5. Xử lý tiền tạm ứng án phí? 6. Khái niệm lệ phí (sơ thẩm, phúc thẩm) và mức lệ phí? 7. Các loại chi phí tố tụng và người phải nộp? Chương 5: Chứng cứ và chứng minh trong Tố tụng dân sự 1. Khái niệm và đặc điểm của chứng cứ? 2. Phân biệt chứng cứ và nguồn chứng cứ? 3. Phân loại và ý nghĩa của phân loại chứng cứ? 4. Nguyên tắc xác định chứng cứ 5. Khái niệm chứng minh? 6. Quá trình chứng minh? 7. Chủ thể phạm vi chứng minh? 8. Chứng cứ và chứng minh và việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án? Chương 6: Thủ tục sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự 1. Quyền khởi kiện và ý nghĩa của quyền khởi kiện? 2. Quyền khởi kiện và việc bảo vệ quyền con người tại Tòa án? 3. Điều kiện khởi kiện? 4. Thủ tục khởi kiện? 5. Thụ lý và thủ tục thụ lý vụ án dân sự? 6. Trả lại đơn khởi kiện? 7. Thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án dân sự 8. Hòa giải: Khái niệm, nguyên tắc, phạm vị, thủ tục hòa giải? 9. Tạm đình chỉ: Khái niệm, căn cứ, hậu quả pháp lý? 10. Đình chỉ: Khái niệm, căn cứ, hậu quả pháp lý? 11. Biện pháp khẩn cấp tạm thời: Khái niệm, các biện pháp, thủ tục áp dụng và hiệu lực thi hành? 12. Khái niệm và ý nghĩa của phiên tòa sơ thẩm? Phiên tòa sơ thẩm và việc bảo vệ quyền con người? 13. Trình tự phiên tòa sơ thẩm? 14. Bản án sơ thẩm? Chương 7: Thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục phúc thẩm giải quyết vụ án dân sự? 2. Quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và ý nghĩa? 3. Quyền kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm và việc bảo vệ quyền con người? 4. Trình tự kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm? 5. Chuẩn bị xét xử phúc thẩm? 6. Phiên tòa phúc thẩm? 7. Quyền hạn của Hội đồng xét xử? 8. Thủ tục phúc thẩm các quyết định? Chương 8: Thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật? 2. Thủ tục xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và việc bảo vệ quyền con người? 3. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm? 4. Căn cứ kháng nghị theo thủ tục tái thẩm? 5. Chủ thể kháng nghị? Thời hạn kháng nghị? 6. Hậu quả của việc kháng nghị? 7. Thẩm quyền giám đốc thẩm, tái thẩm? 8. Quyền hạn của Hội đồng giám đốc thẩm? 9. Quyền hạn của Hội đồng tái thẩm? Chương 9: Thủ tục giải quyết việc dân sự 1. Khái niệm, ý nghĩa của thủ tục giải quyết việc dân sự? 2. Bảo vệ quyền con người trong thủ tục giải quyết việc dân sự? 3. Thủ tục sơ thẩm việc dân sự? 4. Thủ tục phúc thẩm việc dân sự? 5. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất, hạn chế năng lực hành vi dân sự? 6. Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú? 7. Thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích, một người là đã chết? 8. Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài? B. HỆ THỐNG BÀI TẬP I. Bài tập cá nhân BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 1 – TUẦN 3 Chủ đề: Những nguyên tắc chung trong hoạt động tố tụng dân sự. - Mục tiêu đánh giá: • Xác định được những nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự và nội dung của các nguyên tắc này đối với việc đảm bảo quyền con người trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. • So sánh các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự với các nguyên tắc cơ bản của các ngành luật hình thức khác như Luật Tố tụng hành chính, tố tụng hình sự,... • Đánh giá được vai trò và ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Tố tụng dân sự và sự tác động của các nguyên tắc này đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia vào quá trình tòa án giải quyết vụ việc dân sự. - Cấu trúc bài tập: A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc: • Thế nào là nguyên tắc cơ bản của LTTDS? 100 từ 1 điểm • Đặc điểm của nguyên tắc cơ bản LTTDS? 100 từ 1 điểm • Nội dung cơ bản thể hiện tính nhân quyền trong các nguyên tắc của LTTDS? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt tính nhân quyền trong các nguyên tắc của LTTDS với tính nhân quyền trong các nguyên tắc của các ngành luật tố tụng khác? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống: Chứng minh nguyên tắc hai cấp xét xử trong tố tụng dân sự là một trong những nguyên tắc hữu hiệu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự trong tố tụng dân sự. 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 1000 từ 6 điểm BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 – TUẦN 7 Chủ đề: Hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự . - Mục tiêu đánh giá: • Nhận diện những nội dung cơ bản của Luật Tố tụng dân sự đối với hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự. • Tổng hợp và so sánh các biện pháp thu thập chứng cứ do Luật Tố tụng dân sự quy định,... • Đánh giá được vai trò và ý nghĩa của các quy định của Luật Tố tụng dân sự đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Cấu trúc bài tập: A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc: • Các biện pháp thu thập chứng cứ và hoạt động chứng minh của LTTDS? 100 từ 1 điểm • Đặc trưng của hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong LTTDS? 100 từ 1 điểm • Đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thông qua hoạt động thu thập chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt những biện pháp Tòa án thu thập chứng cứ do đương sự yêu cầu với những biện pháp thu thập chứng cứ do Tòa án tự mình chủ động thực hiện? Phân biệt nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể tham gia tố tụng dân sự? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống: Trong quá trình giải quyết tranh chấp hợp đồng (HĐ) thuê nhà giữa chủ nhà là bà X và người thuê nhà là Công ty Y về việc điều chỉnh giá thuê nhà theo HĐ (HĐ quy định sau mỗi năm giá thuê nhà sẽ điều chỉnh theo giá thị trường), Tòa án đã yêu cầu cơ quan hữu quan cho ý kiến về giá thuê nhà tại thời điểm gỉai quyết tranh chấp để làm căn cứ giải quyết vụ án. Tòa án đồng thời cũng gửi công văn đến một số Doanh nghiệp kinh doanh nhà ở yêu cầu cung cấp thông tin với nội dung tương tự. Đại diện viện kiểm sát tham gia phiên tòa sơ thẩm phản đối các hành vi tố tụng nêu trên của tòa án với lý do tòa án tiến hành thu thập chứng cứ mà không có yêu cầu của đương sự. Tuy nhiên các đương sự đã không có sự phản đối các hành vi nêu trên của Tòa án. Nhận xét về hành vi tố tụng nêu trên của Tòa và nêu quan điểm, cơ sở pháp lý về việc có chấp nhận những chứng cứ mà tòa đã thu thập nêu trên hay không? 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 1000 từ 6 điểm II. Bài tập nhóm tháng (theo nhóm nhỏ) BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 – TUẦN 5 Chủ đề: Phân tích và cho ví dụ tình huống minh họa các tiêu chí xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ý nghĩa của cách xác định thẩm quyền theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. - Mục tiêu đánh giá: • Nắm vững cách làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Có khả năng hùng biện trước đám đông; • Nhận diện và có khả năng tổng hợp phân tích lý giải các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về thẩm quyền của Tòa án trong tố tụng dân sự - Sản phẩm đánh giá: • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Các tài liệu nhóm thu thập được (nếu có) hồ sơ vụ án,... • Báo cáo của nhóm về nội dung của chủ đề cần chuẩn bị để thuyết trình trước lớp (Nếu có thời gian và lớp ít sinh viên). - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm): • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 2 điểm • Có ý tưởng sáng tạo trong giải quyết nhiệm vụ; • Báo cáo trình bày mạch lạc, rõ ràng, lập luận logic; • Hình thức trình bày rõ ràng và sáng tạo, khả năng hùng biện thuyết phục (nếu có) 2 điểm 3 điểm 1 điểm BÀI TẬP NHÓM SỐ 2 – TUẦN 11 Chủ đề: Xây dựng bộ hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự. - Mục tiêu đánh giá: • Nắm vững cách làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận với thực tiễn; • Nhận diện và có khả năng tổng hợp phân tích lý giải các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về các điều kiện thực hiện quyền khởi kiện, đảm bảo cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh, thương mại cho các chủ thể. - Sản phẩm đánh giá: • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Toàn bộ hồ sơ khởi kiện: gồm đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện,... - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm): • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 2 điểm • Có ý tưởng sáng tạo trong giải quyết nhiệm vụ; • Hồ sơ khởi kiện, các tài liệu chứng cứ cần thiết phải nộp ở tại thời điểm nộp đơn; • Hình thức trình bày rõ ràng và sáng tạo trong đơn khởi kiện. 2 điểm 3 điểm 1 điểm III. Bài tập lớn học kỳ (theo nhóm lớn) BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – TUẦN 15 Dự án: Tổ chức phiên tòa tập sự sơ thẩm giải quyết vụ án dân sự - Mục tiêu đánh giá: • Nắm vững cách làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận với thực tiễn; • Nhận diện và có khả năng thể hiện tốt các vị trí vai trò chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. - Sản phẩm đánh giá: • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Báo cáo tổng kết quá trình chuẩn bị các công việc tổ chức phiên tòa tập sự (giữa các thành viên trong nhóm, và sự tương tác với các nhóm khác..); • Khả năng trình diễn và tổ chức phiên tòa tập sự. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm): • Xây dựng mục tiêu, nhiệm vụ và phân công chức năng nhiệm vụ rõ ràng, cụ thể của các thành viên của nhóm; 2 điểm • Tính hiệu quả của công việc nhóm; 2 điểm • Giải quyết nhiệm vụ đầy đủ, đúng yêu cầu; 2 điểm • Có ý tưởng sáng tạo, sử dụng đa dạng các công cụ, thiết bị trong giải quyết nhiệm vụ của nhóm (nếu có); • Có ý tưởng sáng tạo, khả năng diễn xuất sinh động, uyển chuyển; • Có tổ chức, liên kết với các nhóm khác khi tiến hành phiên tòa tập sự. 2 điểm 3 điểm 1 điểm

Thứ Hai, 17 tháng 12, 2012

THƠ VUI 12-2012

Bút tre đời mới chuyên đề: Chưa đi chưa biết... * Châu Phi Chưa đi chưa biết châu Phi Đi rồi mới thấy cái gì cũng đen Không chơi thì bảo rằng hèn Chơi rồi lại sợ nó đen cả tuần * Singapo Chưa đi chưa biết Singapo Đi rồi mới thấy nó to thế này Tưởng rằng chính hiệu “đồ Tây” Ai ngờ cũng giống như tày Việt Nam. * Thái Lan Chưa đi chưa biết Thái Lan Đi rồi mới thấy ngợp bàn là Xiêm Không mua thì tiếc, lại thèm Mua rồi lại sợ “Ếch” đêm về nhà. * Luân Đôn Chưa đi chưa biết Luân Đôn Đi rồi mới thấy hút hồn cả đêm Cầu trời mưa tạnh gió êm Để tôi ra được sông Thêm* hút hồn? __________ * Sông lớn chảy qua Luân Đôn * Nam Ninh Chưa đi chưa biết Nam Ninh Đi rồi mới thấy nó xinh thế này Lúc nào nó cũng “uây uây”* Không nghe thì lại tiếc ngày tiếc đêm… _____________ * Tiếng Trung có nghĩa: Alô * Quảng Đông Chưa đi chưa biết Quảng Đông Đi rồi mới biết dốc Mông thế nào Đông Quảng đêm ước ngày ao Hút hồn du khách khi vào thật sâu. * Lào – Nga – Cu Ba Chưa đi chưa biết nước Lào Đi rồi mới thấy thụt vào thụt ra Chưa đi chưa biết nước Nga Đi rồi mới biết thụt ra thụt vào Ở gần như phố Hàng Đào Đi rồi cũng thấy thụt vào thụt ra Tít xa như nước Cu Ba Đi rồi cũng thấy chưa ra đã vào… * Cam Pu Chia Anh đi công tác Cam Pu Chia chiến lợi phẩm ở tù 3 năm * Hoa Kỳ Chưa đi chưa biết Hoa Kỳ Đi rồi mới thấy cái gì cũng bo Không bo nó bảo rằng tồ Bo rồi nó sướng nó rồ suốt đêm. * Pari Chưa đi chưa biết Pari Đi rồi mới thấy cái gì cũng hay Không chơi thì bảo “cáy ngày” Chơi rồi lại sợ ngất ngây cả tuần. * Vũng Tầu Chưa đi chưa biết Vũng Tầu Đi về biết mới biết sâu hơn vũng nhà Vũng nhà khoan mãi chẳng ra Vũng Tàu khoan phát dầu ra ầm ầm… * Đồ Sơn Chưa đi chưa biết Đồ Sơn Đi rồi mới biết chả hơn đồ nhà Đồ nhà tuy có hơi già Nhưng là đồ thật hơn là Đồ Sơn * Quê ông vốn ở Đồ Sơn Mấy thằng nhăng cuội ví hơn ví bằng Đồ Sơn trẻ đẹp ga lăng Ngọt ngon con mắt, bằng trăm đồ nhà… * Sài gòn Chưa đi chưa biết Sài gòn Đi rồi mới biết mình còn rất ngu Trong túi chẳng còn một xu Thằng miệng ăn một thằng cu ăn mười Sếp nhìn sếp tủm tỉm cười: "Mày còn ngu một, tao mười lần hơn". * Nha Trang Chưa đi chứ biết Nha Trang Đi rồi mới biết hắn sang hơn mình Có tắm biển, có tắm sình( bùn ) Có hồ nho nhỏ cho mình tắm chim. * Lai châu Chưa đi chưa biết Lai Châu Đi rồi mới thấy buồn rầu nhiều hơn Rừng xanh ai cạo sạch trơn Thái đen, Thái trắng chẳng hơn Thái Bình * Kẹo Cu Đơ Chưa ăn chưa biết cu đơ (kẹo cu đơ) Ăn rồi mới biết nó đờ cu ra… * Huế Thương Chưa đi chưa biết Huế Thương Đi rồi cũng thấy Huế thường thường thôi Huế Thương thích xuống nước chơi Khách thương khách thích tơi bời hotel. * Chưa đi chưa biết Huế ơi Đi rồi mới thấy lắm nơi huy hoàng Kinh thành Hoàng Đế ngai vàng Hương Giang xanh biếc lắm nàng sida * Chồng: Anh đi công tác Quảng Đà Máy bay giặc Mỹ bắn phà Sông Gianh Chân tay anh vẫn nguyên lành Chỉ riêng cần số tan tành khói mây Vợ: “Cần số” có hỏng hề chi Miễn là còn lại “hai bi” là mừng Khi về có bác sĩ Tùng “Cần số” chắp lại là dùng được ngay * Hải Ninh Chưa đi chưa biết Hải Ninh Đi rồi mới biết cửa mình mở ra Cửa mình mới mở năm qua Ông to, ông nhỏ đều qua cửa mình. * Lạng Sơn Chưa đi chưa biết Lạng Sơn Đi rồi mới biết chẳng hơn lạng nhà Lạng nhà tuy cổ, tuy già Nhưng dùng tiện lợi hơn là Lạng Sơn. * Quảng Bình Chưa đi chưa biết Quảng Bình Đi rồi mới thấy quê mình đẹp ghê Phong Nha là động miễn chê Mấy em tiếp thị sướng tê cả người * Hà Nội Chưa đi chưa biết Thủ đô Đi rồi chẳng thấy khác đồ nhà đâu Đồ nhà hơi xấu hơi sâu Thủ đô có đẹp còn lâu mới bằng * Plei Ku Anh đi công tác Pờ Lây Ku dài dằng dặc biết ngày nào vê Khi xong anh ghé Ban Mê Thuột ngay một cái là về với em * Buôn Mê Thuột Anh đi công tác Buôn Mê Thuột vào một lúc là về với em Nôn lòng anh đợi ngày đêm Ngày mai ta sẽ về bên đồ nhà Hoan hô thị xã Buôn Ma Thuột lên thành phố thật là sướng thay Buồn cho thị xã Plei Ku nằm ở đó biết ngày nào lên. * Mường Tè Anh đi công tác bản Mường Tè xong một cái lên đường về quê * Quảng Ninh Chưa đi chưa biết Quảng Ninh Đi rồi mới thấy cửa mình mở ra Hàng gần cho tới hàng xa Muốn mà xuất được phải qua cửa mình Hàng thô cho tới hàng tinh Cứ qua của mình phải xuất cho nhanh… * Hải Dương Chưa đi chưa biết Hải Dương Đi rồi chẳng thấy biển thương đâu nào Hải Dương toàn vụng với ao Hai đồi nho nhỏ lạc vào là chơi * Quan họ Bắc Ninh Chưa đi chưa biết Bắc Ninh Đi rồi mới biết quan mình lả lơi Quan họ đứng quan họ ngồi Quan họ trải chiếu xin mời tình tang. . Thái Bình Chưa đi chưa biết Thái Bình Đi rồi mới thấy Thái mình chơi sang Thái trắng động cái nước tràn Thái Bình khoan mãi ra toàn khí trơ * Hải Phòng Chưa đi chưa biết Hải Phòng Đi rồi mới thấy bềnh bồng câu thơ Hải Phòng toàn những chuyện rồ Sông thì đem Lấp, Đồ thì đem Sơn.

Thứ Năm, 29 tháng 11, 2012

VUI CƯỜI 12-2012

Ngồi buồn chẳng có một ai Soi gương mình thấy đẹp trai vô cùng Đẹp trai nhưng lại bi khùng Bị khùng mới ngỡ vô cùng đẹp trai. Làm thân con gái phải lo Chỉnh chu sắc đẹp khỏi cho ế chồng. Đầu lòng hai ả Tố Nga Lạy trời đứa kế sẽ là thằng cu. Vợ tôi như ngọn trúc đào Lao xao trước gió ồn ào điếc tai. Nhớ em anh nhớ hột xoàn Nhớ em anh nhớ lượng vàng em đeo. Hỡi cô em gái má hồng Cho ông hỏi nhỏ, bỏ chồng hay chưa? Vạn sự khởi đầu nan gian nan bắt đầu nản Lấy vợ xem tông , lấy chồng xem quốc tịch Tháp mười đẹp nhất bông xen Thân em đẹp nhất tòng teng lắc vàng Ớt nào mà ớt chẳng cay Hotgirl nào cũng rất hay khoe hàng Làm giàu không khó, nhưng khó ở chỗ làm mãi mà không giàu Cảm ơn đời mỗi sáng mai thức dậy Ta thấy mình vẫn còn sống nhăn răng. Tình yêu là bất tử , chỉ có người yêu là thay đổi chết vì gái là cái chết rất oan trái chết vì tình là cái chết bất thình lình chết vì lười là cái chết buồn cười chết vì học là cái chết vàng ngọc chết vì sầu là cái chết rất ngầu chết vì ghen là cái chết nhỏ nhen chết vì chơi là cái chết thảnh thơi chết vì vàng là cái chết vinh quang chết vì bệnh là cái chết bạc mệnh chết vì hận là cái chết lận đận chết vì nợ là cái chết rất sợ Tình yêu là bát bún riêu Bao nhiêu sợi bún bấy nhiêu sợi tình TÌNH LÀ…. Tình làm quen qua mạng gọi là .... tình báo Yêu đến lần thứ tư ... goi là .... tình tứ Yêu đến lần thứ 7 gọi là .... thất tình Yêu một lúc nhiều người gọi là ....Trữ tình Được chấp nhận yêu gọi là ... Vô tình Yêu và kết hôn với người nước ngoài gọi là .... Ngoại Tình Tiền để đưa người iu đi chơi gọi là.... Bạc tình Yêu và kết hôn với người trong nước gọi là ..... nội tình Trong tình yêu luôn luôn chi li sét nét, tiết kiệm ... gọi là ......Tính tình Tình đã đi vào quá khứ gọi là .. Cố tình Tình ngoài hôn thú gọi là... tình phụ Đang yêu mà người yêu " thăng " ( tạ thế) gọi là ... Tình Tang Hai bà vợ cung dùng một ông chồng gọi là..... Chung tình Đau ốm thất thểu vì yêu gọi là ... Tình cảm Yêu từ thời đi học gọi là .... Tình Trường.. ĐỐ VUI 1. To như bắp tay Anh cầm anh nhấn Em sướng căng người Tay sờ tay nắn Một lúc rút ra Anh phóng ra ngoài Em bỏ đi mất. Câu trả lời: Bơm xe 2.Nhấp nhấp trên , nhấp nhâp dưới , dưới nhấp..trên sướng , trên nhấp...dưới đau , rút ra là chảy máu là làm gì thế ? Câu trả lời: Câu cá 3.Cái gì mình đứng thì nó nằm mà mình nằm thì nó đứng. Câu trả lời: Bàn chân Mẹ nhắn tin cho con gái: Mẹ: "May dang o dau?" Con gái nhắn lại: "Con di cho!" Mẹ: "Tao hoi may dang o dau?" Con gái: "Di cho di cho, con di cho!" Mẹ: "Do thu mat day, may dam chui tao con di cho a?" Con nhắn tin: MSG: "Bo ve ngay, me dang om 1 thang tren giuong!" KQ: Ông bố lao ngay về bất kể ngày đêm: "Đâu, thằng nào!" Nàng trách móc: MSG: "Em om 2 thang roi, ai bao anh khong den tham em" KQ: "Suong nhi, vay bao 2 thang do lo cho em di, vinh biet" Chàng trai và cô gái tán tỉnh nhau trên điện thoại, cô gái nhắn : "Anh to cao dep trai như vay thi co nao cha me". Chàng trai nhắn lại: "Em qua khen, anh cung binh thuong thoi". cô gái nhắn lại: "Em noi that ma, cu to nhu anh thi em nao cha thich". Vợ nhắn tin cho chồng mách tội con vì nó hư. Chồng nhắn tin lại: "Em la con di" Vợ nhận được tin nhắn, tức giận, gọi lại ngay cho chồng: - Sao anh lại có thể nói về tôi bằng những lời lẽ như thế? Chồng vội vàng phân bua: - Anh bảo là em la con đi, kể tội con với anh làm gì. Chàng trai gọi cho người yêu, không thấy nghe máy. Anh hốt hoảng khi nhận được tin nhắn của cô: "Doi em chut, em dang ban dam ben nha thang ban" Anh người yêu học cùng lớp không thấy người yêu đến liền nhắn tin: "Sao em khong di hoc". Cô nàng nhắn lại: "Co mang, em so qua, khong muon hoc nua". Anh nguời yêu hoảng hốt: "Co mang hoi nao sao anh khong biet". Cô liền nhắn lại: "Tuan truoc. Anh va em cung lam, nhung chi minh em la co mang". Anh người yêu tỏ ra hiểu biết: "Anh co lam gi dau. Voi lai moi mot tuan sao biet duoc". Cô gái tức giận: "o truong ai cung biet roi, anh con choi a. Co mang truoc lop ai cung thay". Chú Cuội ngồi gốc cây đa Nửa đêm thanh vắng sờ đùi Hằng Nga Hằng Nga chẳng nói chẳng la Chú Cuội đuợc thể ........sờ 3,4 lần. Trong đại hội hàng không quốc tế, một người Mỹ hùng hồn tuyên bố: Hãy đưa tui cục sắt tui sẽ làm ra một con boeing 767. Người Nhật đứng gần đó bĩu môi: Hãy đưa tui một ít chất bán dẫn tui sẽ trang bị cả hệ thống thông tin liên lạc trên con 767 đó Bác Việt Nam nãy giờ lo chụp hình cũng quay sang quả quyết : Nếu đưa tui một nữ tiếp viên hàng không tui có thể cho ra đời một phi hành đoàn và hành khách số lượng không hạn chế. Tại cuộc thi Vô Đich Bắn Súng TG lần thứ XXX có 3 VĐV vào vòng chung kết: Hàn Quốc,Trung Quốc và VN. Đầu tiên, xạ thủ Trung Quốc lên bắn,anh ta lấy ra 1 con ruồi cho nó bay đi và…PẰNG,con ruồi đứt làm đôi. Tiếp theo,xạ thủ Hàn Quốc lên bắn,anh ta cũng lấy ra 1 con ruồi cho nó bay đi và…PẰNG,con ruồi đứt làm 4. Cuối cùng,xạ thủ VN lên bắn,anh ta cũng lấy ra 1 con ruồi cho nó bay đi và…PẰNG, con ruồi lảo đảo 1 chút rồi bay đi mất.Kết quả TQuốc HC đồng, HQuốc HCB và VN HCV. Khán giả la ó wá trời,BTC mới giải thích:con ruồi đó nó còn sống nhưng chẳng còn làm ăn gì được! Một cha xứ bị lạc mất một con chim quý, ông rất buồn, đi tìm khắp nơi mà không thấy. Ông nghĩ chắc nó bị lạc vào nhà ai đó, vì thế hôm sau trước lúc giảng đạo ông hỏi các con chiên: – Ai trong số các con có một con chim ? Tất cả đàn ông trong phòng đứng dậy. Cha sứ biết mình bị hiểu lầm, ông chữa lại : – Ý ta là ai trong các con đã nhìn thấy một con chim … Tất cả phụ nữ trong phòng đứng dậy – Oh không, ai trong số các con đã nhìn thấy một con chim, không phải của mình … eh… mà là của hàng xóm Một nửa số phụ nữ trong phòng đứng dậy. Vẫn sai , ông bèn sửa lại : – Oh không, thế ai trong số các con đã nhìn thấy con chim của ta? Tất cả các bà sơ đều đứng dậy! Sống trên đời này phải biết qúy 4 chữ: chữ “Phải” để luôn sống và làm theo lẽ phải; chữ “Thật” để luôn sống thật, không gian dối; chữ “Nhẫn” để biết phải luôn tha thứ; chữ “Tâm” để biết yêu thương những người xung quanh. Nói tóm lại làm người sống trên đời này phải “Phải Thật Nhẫn Tâm” thì mới đáng sống!!! Một người Nhật đi tìm tổ tiên của mình. Anh đi khắp thế giới tìm nhưng vô vọng. Cuối cùng anh đến ga Vinh ở Nghe An Việt Nam. Anh nghe người ta nói chuyện: - Mi đi ga chi? - Tau đi ga ni. - Ga ni ga chi? - Ga chi như ri? - Ga như ri mi lo ra đi. - Tau đi nghe mi! Anh mừng rỡ reo lên " Đây chính là tổ tiên của người Nhật" Trên máy bay, mọi người được thông báo là nhiên liệu sắp cạn, nên ai thấy gì không cần thiết thì vứt xuống để giảm trọng lượng. Một người Mỹ đem cái vali sang trọng của mình vứt xuống. Mọi người hỏi thì ông ta bảo: "Vali đô la ấy mà. Ở Mỹ thiếu gì đô la!" Một người Nhật đem cái hòm tuyệt đẹp của mình vứt xuống. Mọi người hỏi thì ông ta đáp: "Hòm kim cương ấy mà, ở Nhật thiếu gì kim cương!". Người Việt Nam đứng gần đó đạp hai ông này rơi xuống. Mọi người đang sửng sốt thì ông ta bảo: "Người ấy mà. Ở Việt Nam thiếu gì thằng nổ như vậy” Alô, ai đấy ?????? “A lô, đây là nhà tôi mà, ai đang cầm máy đó”? “Dạ, tôi là giúp việc” “Ủa, nhà tôi có giúp việc đâu”? “Dạ, bà chủ vừa thuê tôi sáng nay” “Thế bà chủ đâu”? “Dạ, bà chủ ngủ với ông chủ trên gác” “Láo, tao là ông chủ” “Dạ, thế bà chủ ngủ bà bảo kia là ông chủ ạ” “Này, muốn có tiền không”? “Dạ... Lấy khẩu súng trong ngăn kéo, bắn bỏ hai đứa đó đi”. Pằng !!!!!!!!!!!!! “A lô, xong chưa”? “Dạ, xong rồi ạ” “Bây giờ, gói xác, ném xuống hồ nước cạnh nhà” “Dạ, cạnh nhà”??? “Làm gì có hồ nước nào”??? “Nhìn kỹ lại xem nào”! “Dạ, không có hồ nào ạ” “Thôi chết, nhầm máy”. Sếp gọi điện thoại cho cô thư ký và nói: “Tuần này tôi phải dành thời gian cho cháu trai. Hoãn chuyến công tác lại nhé.” Cô thư ký gọi lại cho ông chồng:”Tuần này sếp bận nên chuyến công tác hoãn rồi anh ạ.” Chồng cô thư ký gọi lại cho cô bồ: ”Vợ anh hoãn chuyến công tác rùi nên tuần này chúng ta không bên nhau được em ạ. Cô bồ lại gọi điện cho cậu học sinh của mình:"Tuần này cô ko bận việc nên chúng ta vẫn học bình thường." Cậu học sinh lại gọi điện lại cho ông:”Ông ơi, cô giáo cháu bảo tuần này vẫn phải học nên cháu không đi chơi với ông được rồi.” Ông cậu lại gọi cho cô thư ký: ”Tuần này tôi vẫn tham dự cuộc họp, cô sắp xếp lịch…” Cả thế giới đều phải kiêng nể người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm trước nói sau. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc ko nói mà làm. Người Trung Quốc lại sợ ai??? Xin thưa Trung Quốc sợ nhất Việt Nam vì Việt Nam nói 1 đằng làm 1 nẻo... Một anh chàng bước vội vào phòng vệ sinh để xả Street, bỗng từ phòng bên cạnh có tiếng vọng ra: "Anh ở bên đó sao rồi?" - Tôi vẫn ổn, còn cô? - Em vẫn khỏe, anh đang làm gì bên ấy đấy? Anh chàng thành thật trả lời : "Tôi đang đi vệ sinh, còn cô?" Cô gái đáp: "Thôi để khi khác nói, em cúp máy nha, có thằng điên nào cứ lải nhải bên đó!" Có thông tin là tỉnh quảng bình sẽ sát nhập với hà tĩnh, lấy tên là tỉnh bình tĩnh. Bộ nội vụ sát nhập với bộ công an thành bộ nội công. Bộ thông tin truyền thông sáp nhập với bộ giáo dục thành bộ truyền dục. Nhưng theo các tờ báo lá cải, bộ nội vụ chỉ thích sát nhập với bộ y tế, lấy tên là bộ nội y. Còn bộ truyền thông lại có nhã ý sát nhập với bộ lao động thương binh xã hội thành bộ truyền lao. Còn theo thông tin cực mật thì 3 tỉnh Đắc lắc, kontum và pleiku sẽ sát nhập lại, lấy tên là kon-ku-lắc, hay lắc-kon-ku gì đó ...cái này đang xem xét. Một tên cướp trên máy bay, hắn hét to:"Tất cả phụ nữ trên máy bay phải bỏ hết tất cả trang sức vào túi này nếu không sẽ bị hãm hiếp. Tất cả mọi người sợ hãi,nhanh chóng tháo hết đồ trang sức của mình nộp cho tên cướp, duy chỉ có một bà già nhất quyết không chịu, tay vẫn còn đeo đầy nhẫn. Tên cướp nổi giận bước tới quát:"Sao bà không bỏ hết trang sức vào túi". Bà già nở nụ cười nhảm hiểm:"Hí hí đồ quỷ sứ nói thì phải giữ lời đấy nhé" Thông báo, hiện nay chúng tôi chưa có gì để thông báo nên chưa thông báo để quý vị được biết là không có gì để thông báo khỏi phải mất công cứ ngồi nghe thông báo ! Những ai mà nghe được thông báo này hãy thông báo lại cho những người chưa được nghe thông báo, để họ khỏi phải mất công lên bảng thông báo xem thông báo mà lại chẳng có thông báo gì của những người thông báo.Đó là 1 vài dòng thông báo ngắn của ban thông báo, chương trình thông báo của ban thông báo đến đây là hết xin hẹn gặp lại quý vị trong những chương trình thông báo sau . Hết thông báo !!! Chứng minh hệ phương trình: Học = ko thi rớt Ko học = thi rớt <=> Học + ko học = ko rớt + rớt <=> Học * ( 1 + ko ) = rớt * ( 1 + ko ) <=> Học = rớt Ai cũng có việc làm nhưng không ai làm hết việc. - Ai cũng không làm hết việc nhưng ai cũng có lương. - Ai cũng có lương nhưng không ai đủ sống. - Ai cũng không đủ sống nhưng ai cũng phải sống. - Ai cũng sống nhưng số ít hài lòng. - Ai cũng không hài lòng nhưng ai cũng 'giơ tay' đồng ý Ôi ! Lần đầu tiên làm chuyện ấy, mình sợ. Ngay cả khi đã nằm xuống ngay cạnh anh ấy mà mình vẫn còn run. Mình toát cả mồ hôi. Mặc dù anh ấy làm rất nhẹ nhàng, từ từ, nhưng mình vẫn có cảm giác đau nhoi nhói của lần đầu tiên. Rồi đột nhiên anh ấy thúc thật mạnh vào da thịt mình. Đau quá…! Rồi thì cũng xong, anh từ từ rút cái đó ra, cảm giác mới nhẹ nhàng và ngất ngây làm sao. Mình cảm thấy mãn nguyện. Mặc dù có một chút máu bị rớm ra mép của nó. Lần đầu tiên đi hiến máu nhân đạo. Sáng hôm nay vừa mở mắt tui đã nghe 2 vợ chồng phòng bên : Vợ : Anh lúc nào cũng vậy , chỉ bóp ở trên... làm em bực cả mình. Chồng : Em nhìn lại nhá... tối hôm qua anh vừa nặn, vừa bóp từ dưới lên trên đấy thôi... Vợ : Sao bây giờ ở trên nó dẹp lép, còn ở dưới nó phình to thế này huh? Chồng : Em nói nhiều quá. Đưa đây anh bóp lại cho. Vợ : Thôi, nặn kem ra cho em đánh răng nè !

BÀI TẬP TỐ TỤNG DÂN SỰ 12-2012

BÀI TẬP TỐ TỤNG DÂN SỰ Vào một đêm đẹp trời, cô Holly Marie Adams (gọi tắt là Adams) cùng một nhóm bạn gái đi xem cuộc biểu diễn của các chàng cao bồi tại thành phố Sikeston. Sau khi chán chê cuộc vui, Adams ghé vào nhà của hai chàng trai trẻ Raymon và Richard Miller mặc dù không có hò hẹn trước. Trong đêm lưu lại nhà của gia đình Miller, Adams đã quan hệ tình dục với Raymon. Vài giờ sau, cô lại quan hệ với Richard. Sau đêm chăn gối cuồng nhiệt đó, Adams mang thai và sinh ra một bé gái. Một mình nuôi con tốn kém và vất vả, Adams muốn cha của đứa bé chia sẻ gánh nặng với mình. Cô nhất quyết trong hai anh em, Raymon chính là cha của đứa bé. Raymon không chấp nhận. Anh cho rằng người anh em song sinh Richard cũng có thể là cha của đứa bé vì cũng có quan hệ tình dục với Adams. Raymon đòi thử ADN cả hai anh em để xác định ai đích thực là cha của đứa bé. Kết quả thử ADN cho thấy cả Richard lẫn Raymon đều có khả năng là cha ruột của đứa bé tới 99,9%. Kết quả này không lạ vì hai người là anh em song sinh cùng trứng. Tranh chấp căn hộ The Manor Ngày 19-4-2010, TAND quận Bình Thạnh (TP.HCM) một lần nữa mở phiên tòa xét xử vụ tranh chấp căn hộ The Manor giữa chủ đầu tư là Công ty TNHH sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu Bình Minh (Bitexco) với khách hàng Nguyễn Thị Bình. Phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất đã được TAND quận Bình Thạnh mở vào tháng 2-2008 với phán quyết phần thắng thuộc về Bitexco. Lúc bà Bình ký hợp đồng mua căn hộ, giá trị căn hộ là 167.000 USD. Tại thời điểm tranh chấp, căn hộ đã có giá khoảng 260.000 USD (tương đương hơn 4,4 tỉ đồng) nhưng bản án sơ thẩm tuyên cho Bitexco được nhận lại căn hộ và chỉ phải trả lại khoản tiền mà bà Bình đã trả cho công ty là hơn 2,5 tỉ đồng (kể cả lãi). Bà Bình kháng cáo. Ngày 24-6-2008, TAND TP.HCM đã tuyên hủy toàn bộ bản án, giao hồ sơ về TAND quận Bình Thạnh để xét xử lại từ đầu, với lý do vụ án có nhiều vi phạm tố tụng nghiêm trọng. Tại phiên sơ thẩm lần thứ hai ngày 19-4-2010, khách hàng Nguyễn Thị Bình cho biết bà ký hợp đồng mua căn hộ (số AE-305) với giá 167.000 USD. Ngoài hợp đồng mua bán căn hộ giữa hai bên, Bitexco và bà còn ký với Ngân hàng Ngoại thương chi nhánh TP.HCM một thỏa thuận ba bên để vay vốn mua căn hộ. Phía ngân hàng sẽ cho bà Bình vay 50% trị giá căn hộ trong thời gian 10 năm, khi nào có giấy chủ quyền nhà thì bà Bình sẽ thế chấp cho ngân hàng. Tháng 11-2006 bà Bình được Bitexco bàn giao căn hộ. Tuy nhiên, chỉ sau khi nhận nhà vài tháng, bà Bình bức xúc vì nhiều hạng mục nội thất của căn hộ kém chất lượng. Đỉnh điểm là vào khoảng tháng 5-2007, nhà vệ sinh của căn hộ AE-305 nhiều lần bị chất thải trào ngược lên rất hôi thối, mất vệ sinh. Khi bà Bình khiếu nại, đại diện Bitexco hứa sẽ sửa chữa và còn cam kết có thể đổi căn hộ khác cho bà. Tuy nhiên, việc sửa chữa sau đó không đạt chất lượng, đề nghị được đổi căn hộ khác của bà Bình cũng không được chấp thuận nên hai bên đã xảy ra mâu thuẫn gay gắt. Mấu chốt của vụ án là việc xác định khách hàng Nguyễn Thị Bình có vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng hay không đã được các bên tranh luận gay gắt. Tại phiên tòa, đại diện Bitexco nói dù công ty đã nhiều lần gửi thư nhắc nợ nhưng bà Bình vẫn không thanh toán nốt khoản nợ 15.000 USD nên Bitexco có quyền đơn phương hủy hợp đồng. Còn theo luật sư Nguyễn Văn Trung - người bảo vệ quyền lợi cho bà Nguyễn Thị Bình - thì ngược lại. Theo thỏa thuận ba bên giữa Bitexco, bà Bình và ngân hàng, bà Bình phải thanh toán đủ 50% trị giá hợp đồng thì ngân hàng sẽ cho vay tiếp 50%. Mà Bitexco đã có văn bản xác nhận bà Bình thanh toán đủ 50% trị giá hợp đồng nên bà Bình được ngân hàng cho vay 50% trị giá căn hộ để trả cho Bitexco thì có nghĩa bà Bình đã thanh toán đủ 100% trị giá hợp đồng. Tại phiên tòa, khách hàng Nguyễn Thị Bình cũng đề nghị Bitexco bồi thường cho bà khoản tiền mà gia đình bà phải bỏ ra thuê nhà để ở trong suốt hơn hai năm tranh chấp. Đại diện Bitexco không đồng ý vì cho rằng khi lấy lại căn hộ AE-305 để sửa chữa đã bố trí cho gia đình bà Bình một căn hộ trong tòa nhà để ở tạm nhưng bà Bình không ở mà tự ra ngoài thuê. Trong khi đó, bà Bình cho biết: đúng là công ty có bố trí căn hộ B502 để gia đình bà ở nhưng tháng 11-2007, The Manor đưa vào sử dụng hệ thống thẻ từ để kiểm soát việc ra vào tòa nhà. Gia đình bà không được cấp thẻ nên cứ phải đứng canh, nhờ thẻ của người khác để ra vào nhà mình. Chính vì vậy, bà đành trả lại căn hộ B502 để đi thuê chỗ khác. Bà Bình đã đề nghị tòa tuyên buộc Bitexco phải tiếp tục thực hiện hợp đồng, trường hợp tòa tuyên hủy hợp đồng thì Bitexco phải trả lại cho bà khoản tiền theo trị giá căn hộ thời điểm hiện nay, khoảng 272.000 USD (tương đương hơn 5 tỉ đồng, theo kết quả định giá mà tòa trưng cầu). Bà Bình cũng đề nghị tòa buộc Bitexco bồi thường khoản tiền gia đình bà phải bỏ ra thuê nhà để ở tổng cộng hơn 22.000 USD. Do ký tên xác nhận căn nhà là của vợ nên người chồng mất quyền đối với tài sản chung. Ông T. chung sống với bà K. từ năm 1976, có tổ chức lễ cưới nhưng không đăng ký kết hôn. Năm 2004, họ từng ra tòa ly hôn nhưng sau khi được tòa hòa giải thành thì họ đã quay về đoàn tụ. Ba năm sau, ông T. lại nộp đơn đòi ly hôn vợ. Tại phiên tòa sơ thẩm, ông T. hoảng hồn khi hội đồng xét xử xác định ông và bà K. không phải là vợ chồng. Bởi lẽ trước khi sống với bà K., ông đã chung sống và có con với người phụ nữ khác. Ông chưa ly hôn với bà này nên quan hệ giữa ông và bà K. là bất hợp pháp. TAND quận Gò Vấp không công nhận ông T. và bà K. là vợ chồng. Phúc thẩm vụ án hồi tháng 3-2008, TAND TP.HCM viện dẫn Thông tư số 690 năm 1960 của TAND tối cao và xác định quan hệ giữa ông T. và bà K. không vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Họ là vợ chồng hợp pháp. Vì đời sống chung của họ có mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cấp phúc thẩm giải quyết cho họ được ly hôn. Luật buộc bảo hành 60 tháng nhưng hợp đồng mua bán nhà ghi bảo hành có 24 tháng. Mới đây, Công ty TNHH Thương mại Đất Phương Nam, chủ đầu tư tòa nhà, thông báo hết thời hạn bảo hành nhà vào ngày 30-4-2008. Những hư hỏng sau đó của các căn hộ sẽ do chủ sở hữu tự bỏ chi phí để sửa chữa. Tại buổi họp giữa hai bên sáng 18-1, ông Hoàng Nghĩa Long (phòng 1, lầu 6, lô B) cho biết nhiều thiết bị trong tòa nhà đã bị hư hỏng nhưng chưa được sửa chữa. Tường bị thấm nước, sơn tường tróc loang lổ, một số căn hộ hễ xả nước nhiều thì hệ thống thoát nước nghẹt ứ. “Phải kéo dài thời gian bảo hành tòa nhà để sửa chữa những hư hỏng trên. Chúng tôi mua nhà cao cấp mà phải chịu những hiện tượng như thế là không được” - ông Long nói. Nhiều người dân yêu cầu công ty phải bảo hành tòa nhà trong 60 tháng theo Luật Nhà ở dành cho cao ốc cao trên chín tầng. Ông Trần Mạnh Hùng, Giám đốc Công ty Đất Phương Nam, giải thích thời điểm Luật Nhà ở có hiệu lực (từ ngày 1-7-2006) thì công ty ông đã xây dựng gần xong tòa nhà. Nhà thầu xây dựng và các công ty cung cấp thiết bị không đồng ý kéo dài thời hạn bảo hành công trình. Nếu như vậy, họ phải mua bảo hiểm công trình và thiết bị, chi phí kết cấu, xây dựng thiết bị điện cơ sẽ đội lên. Đến thời điểm Luật Nhà ở có hiệu lực, công ty đã ký hợp đồng bán nhà cho hơn 100 khách hàng. Những hợp đồng ký sau ngày 1-7-2006, công ty cũng thống nhất giữ lại điều khoản này. “Khách hàng ký hợp đồng thì phải tuân theo quy định của hợp đồng chứ không thể khác được” - ông Hùng khẳng định. Người dân cho rằng những thiết bị điện gia dụng, nước, đồ gỗ... thì có thể bảo hành trong 24 tháng như hợp đồng. Còn những hạng mục khác như hệ thống điện, nước, kết cấu tòa nhà phải được bảo hành 60 tháng. Tuy nhiên, ông Hùng cho rằng công ty chỉ bảo hành phần kết cấu của tòa nhà tức là cột, đà nhà chứ không phải là tất cả thiết bị, hệ thống liên quan đến căn hộ. “Hợp đồng ghi bảo hành trong 24 tháng nhưng những kết cấu căn nhà như hệ thống chịu lực, đà, tường... thì công ty sẽ bảo đảm cho chủ nhà từ 50 đến 100 năm chứ không phải năm hay 10 năm” - ông Hùng nói. Theo Điều 74 Luật Nhà ở, nội dung bảo hành nhà ở bao gồm khắc phục, sửa chữa, thay thế kết cấu nhà ở, thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết hoặc khi vận hành sử dụng không bình thường không phải do lỗi của người sử dụng nhà gây ra. Còn chuyện thiết bị điện, cơ... kèm theo nhà chung cư trên chín tầng có phải bảo hành 60 tháng hay không thì chưa rõ. Căng bạt để… đòi nợ đối phương một tấm bạt thông báo việc khách hàng (Công ty Dầu nhớt Davina) chây ỳ không chịu thanh toán tiền biển quảng cáo cho một công ty quảng cáo. Tấm bạt này được căng ngay trên panô quảng cáo của Davina và chiếm đến một phần hai tấm panô. Vị trí căng bạt nằm ở đầu dốc cầu Chương Dương chạy xuống Nguyễn Văn Cừ, nằm bên phải đường theo hướng từ Hà Nội sang. Cách đòi nợ như thế có đúng pháp luật không? Theo ông T. (Việt kiều Mỹ), sau khi quen biết một thời gian, ông đã cho bà Tr. mượn tiền để mua đất, xây nhà. Nghĩ rằng nơi thân tình, ông không lập giấy tờ gì. Tuy nhiên, do chuyển tiền qua hệ thống ngân hàng nên ông có các giấy tờ liên quan cho thấy có việc giao nhận tiền giữa hai bên. Thời gian gần đây, ông đã đòi lại hơn 500 triệu đồng nhưng bà không đồng ý, buộc ông phải khởi kiện. Tại tòa bà Tr. cho rằng số tiền trên là do ông T. tự nguyện cho bà vì hai bên có quan hệ thân thiết, không phải tiền vay Tháng 9-2006, bà Dung mua một con chó Phú Quốc hai tháng tuổi. Tháng 3-2008, bà thuê doanh nghiệp của ông K. huấn luyện cho chó với chi phí 1 triệu đồng/tháng. Bà Dung đã đưa trước cho phía ông K. 2 triệu đồng. Bốn tháng sau, bà Dung được ông K. thông báo là chó của bà đã bị mất. Xót con chó cưng, bà khởi kiện ra TAND quận Thủ Đức yêu cầu tòa buộc ông K. bồi thường 100 triệu đồng. Bà Dung liệt kê năm khoản: Tiền mua chó 60 triệu đồng, tiền nuôi chó 27 triệu đồng, chi phí tiêm ngừa 3 triệu đồng, tiền huấn luyện chó 2 triệu đồng, tiền chăm sóc, đưa đón chó 8 triệu đồng. Đầu tháng 7-2010, TAND quận Thủ Đức xử sơ thẩm đã bác yêu cầu đòi bồi thường khoản tiền chăm sóc, đưa đón chó, chỉ chấp nhận bốn khoản còn lại với tổng số tiền buộc phía ông K. phải bồi thường cho bà Dung hơn 6 triệu đồng. Bà Dung kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm hôm qua, bà Dung đã rút số tiền đòi bồi thường xuống còn 30 triệu đồng gồm: Tiền mua chó hơn 14 triệu đồng, tiền nuôi chó gần 11 triệu đồng… Theo tòa phúc thẩm, tòa đã tham khảo giá chó Phú Quốc loại hai tháng tuổi tại một số cơ sở thì có giá khoảng hơn 2 triệu đồng. Còn tiền nuôi chó tòa cũng đã tham khảo và đưa ra giá bình quân là 600.000 đồng/tháng… Tổg cộng, tòa buộc ông K. phải bồi thường 16,8 triệu đồng. Đặc trưng của chó Phú Quốc - Bộ lông sát và ngắn. - Có xoáy trên lưng. - Chân có màng vịt, bơi giỏi. - Lưỡi có màu đen hoặc vài đốm đen kịt. - Trên trán có những nếp nhăn, hai tai dựng thẳng, đuôi cong ngược lên sống lưng kiểu “quắc cần câu”. - Thích săn thú và săn rất giỏi. - Khôn và rất hung dữ nhưng lại rất trung thành với chủ. Chủ nhà đòi kiện văn phòng công chứng Công chứng viên không phát hiện bất thường do dấu vân tay trên CMND giả trùng khớp với kết quả lăn tay người đóng vai chủ nhà. Trường hợp làm giả giấy tờ để đi công chứng hợp đồng bán căn nhà 80/22 Đặng Văn Ngữ, phường 10, quận Phú Nhuận (TP.HCM) do bà Nguyễn Thị Huệ làm chủ sở hữu. Thông tin thêm với PV, bà Huệ cho biết: Từ ngày 21-9 đến 24-10-2012, bà có việc sang Mỹ nên không có mặt ở nhà trên. Trong thời gian này, người thuê nhà của bà sử dụng nhà và người này đã có nhiều thủ đoạn tinh vi để lừa bán căn nhà của bà. CMND hệt như thật Ngoài giấy tờ nhà bản chính mà trước đó vờ hỏi mua nhà để đánh tráo, phía người thuê nhà còn làm giả giấy CMND, hộ khẩu, giấy chứng nhận độc thân mang tên bà Huệ và đóng vai bà Huệ đi công chứng hợp đồng bán nhà. Mặt trước giấy CMND ghi đúng các thông tin về bà Huệ nhưng dán ảnh của bà thuê nhà. Mặt sau CMND in dấu vân tay, các dấu vết riêng của bà thuê nhà và thời điểm cấp là gần đây với tên người ký là giám đốc Công an TP.HCM đương thời. Cho rằng Văn phòng công chứng Gia Định không xác minh kỹ càng khi công chứng hợp đồng mua bán nhà trên khiến cho gia đình chịu nhiều thiệt thòi, bà Huệ đang nhờ luật sư tư vấn để khởi kiện văn phòng này. Theo bà, việc mua bán còn có một chi tiết đáng ngờ mà văn phòng lại không nhận ra. Đó là có đến hai hợp đồng mua bán nhà: Hợp đồng một ký ngày 9-10 ghi giá 1,8 tỉ đồng; hợp đồng hai ký sau một tuần ghi giá 3 tỉ đồng (sau khi hợp đồng một bị hủy). Sẽ bồi thường khi có án tòa Làm việc với PV, ông Trần Quốc Phòng, Trưởng Văn phòng công chứng Gia Định, giải thích: “Trong quá trình tiến hành công chứng hợp đồng mua bán nhà nêu trên, các bên tham gia giao dịch đã đồng ý ký tên, lăn tay vào hợp đồng trước sự chứng kiến của công chứng viên (CCV). CCV đã đối chiếu toàn bộ giấy tờ nhà với CMND bản chính do người bán xuất trình (sau này mới biết không phải là bà Huệ) và kiểm tra dấu vân tay thì thấy trùng khớp. Trước khi phát hành hồ sơ, CCV còn đối chiếu lại lần nữa và không thấy có dấu hiệu bất thường. Sở dĩ có hai hợp đồng là do ngày 17-10, người mua và người bán đề nghị lập văn bản hủy hợp đồng chuyển nhượng 1,8 tỉ đồng, đồng thời yêu cầu ký lại hợp đồng với giá tăng lên 3 tỉ đồng. Nhận thấy yêu cầu này không trái với quy định pháp luật nên văn phòng đã thực hiện đúng quy trình hủy và lập hồ sơ ký lại hợp đồng chuyển nhượng. Biến tiền đặt cọc thành tiền mua đất Hơn năm năm trước, bà H. (huyện Nhơn Trạch, Đồng Nai) mua một mảnh đất của vợ chồng ông C. với giá 350 triệu đồng. Hai bên thống nhất, bà H. đặt cọc trên 200 triệu đồng, sẽ thanh toán hết khi đã nhận được giấy tờ đất. Bên bán sẽ đền cọc gấp đôi nếu vi phạm thỏa thuận… Theo bà H., một thời gian sau, vợ chồng ông C. không chịu thực hiện nghĩa vụ như đã cam kết nên bà kiện đòi tiếp tục hợp đồng, nếu không thì phải bồi thường thiệt hại theo giá đất thị trường... Phía ông C. giải thích, số tiền trên 200 triệu đồng trên là ông mượn bà này chứ không phải là tiền mua bán đất. Tuy nhiên, hai bên lại thể hiện bằng hợp đồng mua bán. Khi đến hạn, vợ chồng ông nhiều lần gọi bà H. đến để trả nợ nhưng bà không tới lấy tiền mà kiện ông ra tòa. Do đó, vợ chồng ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H. Xử sơ thẩm đầu năm 2006, TAND huyện Nhơn Trạch đã bác khai nại của bên bán vì không có chứng cứ chứng minh việc mượn tiền. Tòa chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà H., buộc bên bán phải trả cho bà gần 3 tỉ đồng (giá trị đất theo giá thị trường tại thời điểm xét xử) vì không tiếp tục hợp đồng. Tòa nhận định bà H. đã giao trên 200 triệu đồng cho bên bán, chiếm hơn 3/4 giá trị hợp đồng chuyển nhượng đất. Điều này cho thấy khoản tiền trên mang ý nghĩa ở giai đoạn thanh toán hợp đồng chứ không phải là khoản tiền đặt cọc. Do đó, không thể cho rằng đây là tiền cọc để xử lý bồi thường gấp đôi như đôi bên đã thỏa thuận… Xử phúc thẩm sau đó, TAND tỉnh Đồng Nai cũng giữ nguyên quan điểm trên của bản án sơ Ngay sau đó, ông C. làm đơn khiếu nại nhiều nơi vì cho rằng các bản án xử không đúng. Cuối năm 2006, TAND Tối cao có công văn trả lời ông, nhận định bản án của cấp sơ thẩm và phúc thẩm là có căn cứ pháp luật. Vẫn không đồng ý, ông lại khiếu nại đến nhiều cơ quan tại địa phương. Kiện đòi tiền nuôi người yêu ăn học Tốt nghiệp đại học, cô gái chia tay người yêu. Chàng trai liền khởi kiện đòi lại số tiền đã lo cho vợ sắp cưới ăn học suốt nhiều năm qua... Tình yêu của anh Tam và chị Hòa (huyện Tân Uyên, Bình Dương) được gia đình hai bên ủng hộ. Sau lễ đính hôn, phía chị Hòa đặt vấn đề với anh Tam “lo giùm phần vật chất” cho chị ăn học đại học tại TP HCM, sau này tốt nghiệp ra trường thì sẽ tổ chức đám cưới. Anh đã bỏ tiền mua máy tính, điện thoại di động cho chị và lo luôn chi phí một số khoản ăn học khác sau này. Chị và mẹ của Hòa “còn phải ký vào một bản tường trình do phía gia đình anh viết sẵn là đã nhận gần 34 triệu đồng lo ăn học của anh và sẽ thanh toán hết cho anh vào cuối năm 2006”. Đòi mãi không được, anh gửi đơn nhờ TAND huyện Tân Uyên phân xử. Xử sơ thẩm, TAND huyện Tân Uyên nhận định yêu cầu khởi kiện của anh là có cơ sở. Cụ thể, anh Tam nói đã đưa tiền cho chị Hòa để lo ăn học và chị cũng không chối rằng đã nhận tiền... Cuối cùng, tòa tuyên buộc mẹ con chị Hòa phải liên đới trả lại cho anh Tam gần 30 triệu đồng. Sau phiên xử, mẹ con chị Hòa kháng cáo, không chấp nhận việc trả lại tiền. TAND tỉnh Bình Dương nhận định việc anh Tam khởi kiện yêu cầu mẹ con chị Hòa phải trả lại tiền (theo cam kết trong bản tường trình giữa năm 2006) là nhằm yêu cầu thực hiện nghĩa vụ dân sự chứ không phải là kiện đòi tài sản như cấp sơ thẩm xác định. Tuy nhiên, cấp sơ thẩm đã đúng khi kết luận chị nhận của anh gần 30 triệu đồng. Phía chị Hòa nại rằng “do bị áp lực từ gia đình anh nên mới nhận khống số tiền trên trong bản tường trình giữa năm 2006” là không có cơ sở bởi không đưa ra được bất cứ chứng cứ nào chứng minh. Từ đó, tòa phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của mẹ chị Hòa, không buộc bà phải liên đới trả tiền mà trách nhiệm này chỉ do một mình chị Hòa đảm nhận. Năm năm chưa xử vì bị đơn khiếu nại kết quả giám định Theo đơn khởi kiện của ông Trần Sơn Tây Casimir Thông (quốc tịch Pháp), năm 2006, công trình xây dựng nhà của bà HTLH trên đường Phan Tôn (phường Đa Kao, quận 1, TP.HCM) đã làm căn nhà của ông bị sạt lở. Sau đó, hai bên ra UBND phường để giải quyết nhưng không đạt được thỏa thuận. Khi nhà của ông Thông bị hư hại nặng, UBND phường đã ra văn bản đề nghị ông di dời. Ông Thông yêu cầu bà H. chi trả chi phí di dời và tiền thuê nhà nhưng bà H. không chịu, cho rằng ông… vẫn có thể ở trong căn nhà đó. Bất bình, ông Thông khởi kiện, yêu cầu bà H. bồi thường thiệt hại toàn bộ căn nhà cũng như chi phí di dời và tiền thuê nhà. Tháng 10-2008, vụ kiện này đã được TAND TP.HCM thụ lý. Tuy nhiên, đến nay sau gần năm năm, tòa vẫn chưa xét xử vì phía bị đơn liên tục khiếu nại kết quả giám định thiệt hại. Cụ thể, sau khi thụ lý, tòa để các bên chọn công ty giám định thiệt hại. Theo yêu cầu của nguyên đơn, một công ty giám định đưa ra hai phương án: Nếu khắc phục thiệt hại thì chi phí sửa chữa nhà là 2,9 tỉ đồng, nếu xây mới nhà là 2,95 tỉ đồng. Nhận kết quả, bị đơn khiếu nại. Để công bằng, tòa cho chính bị đơn chọn công ty giám định khác. Lần này công ty giám định do bị đơn chọn có kết quả là chi phí khắc phục thiệt hại khoảng 2,3 tỉ đồng. Bị đơn tiếp tục không chịu, tiếp tục khiếu nại. Quá mệt mỏi vì phải chờ đợi, phải ở nhà thuê, ông Thông kiến nghị tòa đưa vụ án ra xử và nếu cần thiết thì bổ sung kết quả giám định chứ không thể chờ đợi thêm một lần giám định nào nữa. Bởi theo ông, dù có giám định lần nữa thì bị đơn cũng sẽ khiếu nại nữa nhằm kéo rê vụ án. Theo thẩm phán giải quyết vụ án, tòa cũng đang rối về phần giám định thiệt hại bởi hai bên không tìm được tiếng nói chung. Sắp tới, tòa sẽ mời ba bên (nguyên đơn, bị đơn, công ty giám định) lên để làm việc về kết quả giám định. Nếu các bên vẫn không thỏa thuận được, tòa sẽ đưa vụ án ra xử. Trao đổi, TS Lê Minh Hùng (Trường ĐH Luật TP.HCM) nhận xét: Quyền yêu cầu giám định là quyền của đương sự nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về tòa. Nếu xử sơ thẩm mà các bên không đồng ý thì kháng cáo, trong quá trình xử phúc thẩm, cấp phúc thẩm có thể trưng cầu giám định lại sẽ hợp lý hơn. Một vụ án về bản chất đã rõ, chỉ vì bị đơn liên tục khiếu nại kết quả giám định mà vi phạm thời hạn tố tụng, phải bắt nguyên đơn chờ đợi mỏi mòn thì cần phải xem xét lại. Bình Dương: Tranh chấp “tách” và “cốc” Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã phạt Công ty TNHH Gold Roast Việt Nam (Gold Roast) do dùng hình cái tách màu đỏ trên bao bì sản phẩm cà phê gây nhầm lẫn với cái cốc của một công ty khác. Tòa án tỉnh này cũng cho rằng Gold Roast đã vi phạm quyền sở hữu công nghiệp. Hiện công ty này đang kháng cáo phán quyết trên của tòa. Theo hồ sơ, trước năm 2006, Công ty Société des Produits Nestlé (Nestlé) đã tung ra thị trường sản phẩm cà phê sữa uống liền mang hình cái cốc đỏ có viền vàng. Ngay sau đó, công ty này phát hiện Gold Roast cũng có loại sản phẩm tương tự có in hình cái tách đỏ trên bao bì. Tháng 10-2006, Nestlé đề nghị Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) thẩm định xem nhãn hiệu hình cái tách đỏ của Gold Roast có vi phạm quyền sở hữu công nghiệp của Nestlé hay không. Nửa tháng sau, Cục phúc đáp Gold Roast sử dụng cái tách đỏ là gây nhầm lẫn với cái cốc đỏ đã được bảo hộ của Nestlé. Dựa vào kết luận trên, Nestlé yêu cầu Thanh tra Bộ Khoa học và Công nghệ xử lý hành vi vi phạm của Gold Roast. Vì không thuộc thẩm quyền nên nơi này đã chuyển hồ sơ cho Thanh tra Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bình Dương xử lý. Cuối năm 2007, Thanh tra Sở kết luận Gold Roast đã có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ. Đầu năm 2008, chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương đã phạt Gold Roast 100 triệu đồng và buộc công ty này “loại bỏ các yếu tố vi phạm” trên bao bì sản phẩm cà phê sữa uống liền. Cho rằng bị phạt oan và để chứng minh mình không sao chép hình ảnh trên của Nestlé, Gold Roast liền nhờ Viện Nghiên cứu sở hữu trí tuệ (thuộc Liên hiệp Các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam) thẩm định lại. Một thời gian sau, viện này kết luận dấu hiệu tách cà phê màu đỏ trên sản phẩm của Gold Roast không có khả năng gây nhầm lẫn với cốc đỏ của Nestlé. Bởi theo viện này, người tiêu dùng nói rằng hình dáng giữa cái cốc và cái tách khác nhau (một cái hình trụ tròn, cái kia không tròn đều; một cái cao, một cái thấp...) cộng thêm các yếu tố chuyên môn nữa nên khó có thể gây ra sự nhầm lẫn. Có được kết luận của Viện Nghiên cứu sở hữu trí tuệ, Gold Roast đã kiện quyết định xử phạt của chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương ra Tòa hành chính. Gold Roast còn dẫn giải thêm từ năm 1996, sản phẩm của công ty này đã được nhập vào Việt Nam từ Singapore, có sử dụng hình ảnh cái tách màu đỏ trên bao bì. Đến năm 2001, Gold Roast có nhà máy sản xuất tại Việt Nam và tiếp tục sử dụng hình ảnh này. Nestlé chỉ đăng ký bảo hộ hình ảnh cái cốc đỏ tại Việt Nam từ năm 2004. Vì thế, Gold Roast sử dụng hình ảnh cái cốc đỏ là ngay tình, không hề vi phạm quyền sở hữu trí tuệ như văn bản của Cục Sở hữu trí tuệ. Gold Roast còn bảo nếu cho rằng công ty này vi phạm, tỉnh cũng không được quyền phạt tiền vì thời hiệu phạt tiền đã hết (vì họ sử dụng hình ảnh này gần 10 năm). Thụ lý vụ án, TAND tỉnh Bình Dương đã trưng cầu giám định vì kết luận của Cục Sở hữu trí tuệ và Viện Nghiên cứu sở hữu trí tuệ không phải là văn bản giám định. Đầu tiên, tòa trưng cầu ở một viện nghiên cứu nhưng nơi này bảo rằng mình không có chức năng giám định vụ việc trên. Tiếp đến, tòa nhờ Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh nhưng nơi này cũng “bó tay” vì nằm ngoài khả năng giám định của cấp tỉnh. Tòa nhờ Viện Khoa học hình sự (Bộ Công an) thì viện này cũng lắc đầu do không thuộc lĩnh vực của mình. Không có cơ quan nào giám định, trong khi hai cơ quan chuyên môn có ý kiến khác nhau, tòa án tỉnh quyết định lấy kết luận của Cục Sở hữu trí tuệ (cho rằng Gold Roast vi phạm) để làm căn cứ xử lý. Tòa nhận định công văn của Cục là kết luận về hành vi vi phạm của Gold Roast nên chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương xử phạt Công ty Gold Roast là có căn cứ. Vì thế, tòa bác đơn kiện, giữ nguyên quyết định xử phạt của chủ tịch tỉnh. Chị em bà T. gồm bốn người: ba gái, một trai. Sinh thời, cha mẹ họ tạo lập được một căn nhà tại TP Biên Hòa, Đồng Nai. Mẹ họ mất năm 1987, cha họ mất năm 1992 và đều không để lại di chúc. Sau khi người em trai qua đời năm 1995, vợ em trai (tức em dâu bà T.) tiếp tục quản lý tài sản. Tháng 4-2008, chị em bà T. nộp đơn kiện em dâu ra tòa để đòi chia căn nhà vì cho rằng đây là di sản do cha mẹ để lại. Theo họ, do thời hiệu khởi kiện chia thừa kế đã hết nên di sản của cha mẹ trở thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Dù thừa nhận căn nhà do cha mẹ chồng tạo dựng nhưng, người em dâu không đồng ý chia tài sản. Bà cho biết sau khi chồng mất, mẹ con bà vẫn tiếp tục quản lý, căn nhà. Trong quá trình sử dụng, mẹ con bà đã sửa chữa gần như toàn bộ căn nhà. Năm 2000, ba người chị chồng đã ký cam kết giao nhà cho bà quản lý sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất. Sơ thẩm vụ án vào tháng 4-2009, TAND TP Biên Hòa viện dẫn Nghị quyết số 02 năm 2004 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao để bác đơn kiện chia tài sản chung. Theo cấp sơ thẩm, nguyên đơn không xuất trình được văn bản mà các đồng thừa kế xác nhận không có tranh chấp và thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia. Tại phiên xử phúc thẩm hồi tháng 8-2009, TAND tỉnh Đồng Nai cũng từ chối chia tài sản. Cấp phúc thẩm cho rằng giấy xác nhận của các đồng thừa kế rằng tài sản chung chưa chia chỉ có chữ ký của ba người chị chồng. Người em dâu ký không thừa nhận, không ký vào tờ xác nhận này. Không tòa nào chịu xử 20-07-2009 22:54:56 GMT +7 HỒNG TÚ Tháng 7-2007, gia đình ông C. thế chấp tài sản cho Công ty D. để vay ít tiền. Sau đó, Công ty D. đề nghị ông C. dùng giấy tờ đã thế chấp cho công ty bảo lãnh cho công ty vay vốn tại ngân hàng. Tuy nhiên, quá trình lập hợp đồng bảo lãnh thế chấp thì bên được nhận bảo lãnh lại là Công ty H. Trên cơ sở đó, Công ty H. đã lập hợp đồng vay vốn. Ít lâu sau, ông C. phát hiện nên kiện ngân hàng ra TAND quận 1 (TP.HCM) để hủy hợp đồng bảo lãnh vay vốn trên. Sau khi nghiên cứu vụ án, TAND quận 1 cho rằng hợp đồng dân sự về thế chấp tài sản có liên quan chặt chẽ đến hợp đồng vay vốn kinh doanh giữa ngân hàng với Công ty H. Tranh chấp hợp đồng vay vốn lại thuộc thẩm quyền xét xử của TAND TP.HCM nên TAND quận 1 đã chuyển vụ án cho TAND TP xử lý. Ngày 13-10-2008, TAND TP thụ lý vụ án. Nhưng sau đó, tòa nhận định ông C. là một cá nhân, khởi kiện ngân hàng là một pháp nhân về hợp đồng thế chấp tài sản bảo lãnh cho một hợp đồng vay vốn khác mang tính chất lợi nhuận. Nhưng bản thân hợp đồng thế chấp lại không mang mục đích lợi nhuận. Cạnh đó, giao dịch thế chấp của ông C. không phải là hoạt động kinh doanh thương mại. Hợp đồng vay giữa Công ty H. với ngân hàng cũng không xảy ra tranh chấp nên chưa phát sinh tranh chấp về kinh doanh thương mại. Từ những lý do đó, cuối năm 2008, TAND TP đã chuyển trả vụ kiện lại cho TAND quận 1. Không đồng ý, ngày 20-5-2009, TAND quận 1 tiếp tục chuyển trả lại hồ sơ cho TAND TP với lý do tương tự như đã nêu trước đó. Đòi tài sản là tranh chấp gì? Theo đơn khởi kiện của ông Đ., trước đây ông đã mua hai mảnh đất có trồng cà phê và cây ăn trái. Trên hai mảnh đất còn có hai ngôi nhà gỗ, một ngôi nhà tạm và hai giếng nước. Sau đó, vì phải đi xa làm việc, ông đã nhờ gia đình người chị trông coi nhà cửa, vườn tược. Đầu năm 2007, ông nghe tin gia đình người chị đã đăng ký quyền sử dụng đất và tặng mảnh vườn cho con gái nên đã đòi gia đình người chị phải trả lại. Do vậy, ông đã khởi kiện ra TAND huyện Krông Năng (Dăk Lăk) yêu cầu gia đình người chị phải trả lại số tài sản trên, bao gồm quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất. Trong quyết định đưa vụ án ra xét xử, tòa án huyện xác định tranh chấp trên là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Tuy nhiên, khi xét xử sơ thẩm (lần một), tòa lại nhận định đây là “tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản trên đất”. Sau khi bị kháng cáo, cấp phúc thẩm nhận định trong quyết định đưa vụ án ra xét xử là “tranh chấp quyền sử dụng đất”. Thế nhưng khi ra bản án, tòa lại xác định là “tranh chấp tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất”. Bản án phúc thẩm này đã hủy án sơ thẩm để đưa về cấp sơ thẩm xét xử lại theo thủ tục chung. Án quay về tòa án huyện thì một lần nữa, Thẩm phán thụ lý cho rằng tranh chấp này là “tranh chấp hợp đồng gửi giữ tài sản” chứ không phải là tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất. Còn trong một số văn bản gửi cho cơ quan chức năng về những vấn đề liên quan đến vụ án, tòa lại nhận định đây là tranh chấp “kiện đòi lại tài sản”. Hà Nội: Kinh hoàng quan tài treo trước ban công Mấy ngày qua, người dân không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh chiếc quan tài với hương khói nghi ngút được đặt tại ban công tầng 2 số nhà 63 Bùi Thị Xuân (Hà Nội). Chiếc quan tài với hương khói nghi ngút tại số nhà 63 Bùi Thị Xuân. Ảnh: PV PV Tháng 4-2009, TAND quận 11 (TP.HCM) nhận được đơn của ông THĐ yêu cầu tòa tuyên bố em gái của mình đã chết. Cụ thể, ông Đ. cho tòa biết trước năm 1975, cha ông khai với chính quyền chế độ cũ rằng có thêm một người con là bà P. để tránh đi lính. Nay ông nhờ tòa tuyên bố người em gái khai thêm không có thật này đã chết để ông có đủ hồ sơ pháp lý để làm thủ tục phân chia di sản thừa kế cha mẹ để lại với các anh chị em khác trong nhà. Bị truy nã có được xác định mất tích? Mới đây, bà M. đã gửi đơn ra TAND quận X (TP.HCM) yêu cầu tuyên bố người chồng của bà mất tích. Theo bà, trước đây chồng bà cùng một số người khác thực hiện nhiều vụ cướp giật tài sản, bị công an truy bắt. Sợ phải vào tù, chồng bà đã gom sạch tài sản quý giá trong nhà rồi bỏ đi biệt tăm. Gần năm năm nay, chồng bà không hề liên lạc gì với gia đình. Hiện chồng bà vẫn đang bị truy nã. VỤ KIỆN ĐÒI BỒI THƯỜNG SỨC KHỎE ĐẾN NĂM 2050 Nguyên đơn chỉ được bồi thường hơn 520 triệu đồng TAND quận Tân Bình (TP.HCM) vừa chấp nhận một phần yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm của phía ông Nguyễn Quang Huyền. Buộc bị đơn Huỳnh Anh Tấn (đang thụ án tù) phải bồi thường hơn 520 triệu đồng cho các khoản thu nhập bị mất, tập vật lý trị liệu... Suốt các phiên tòa trước, đại diện nguyên đơn khăng khăng đòi bị đơn phải bồi thường thiệt hại đến năm 2050 (năm nguyên đơn được 80 tuổi, bớt ba tuổi theo tuổi thọ trung bình người VN). Đến phiên tòa này, HĐXX giải thích cho phía nguyên đơn hiểu là chỉ được bồi thường thiệt hại đối với những thiệt hại thực tế đã xảy ra. Vì vậy phía nguyên đơn chỉ yêu cầu bồi thường các khoản chi phí tính từ khi tai nạn xảy ra đến thời điểm xét xử sơ thẩm và tòa đã tuyên án như trên. Như Pháp Luật TP.HCM đã thông tin, chiều 30-11-2006, ngã ba Cách Mạng Tháng Tám - Bắc Hải (quận Tân Bình) bị kẹt xe nên ông Huyền ra điều tiết lưu thông. Bạn gái Tấn không tuân theo sự điều tiết, bị ông Huyền đánh. Nghe bạn gái kể lại, tối đó Tấn chở bạn gái đi tìm ông Huyền “hỏi chuyện”. Trong lúc đánh nhau, Tấn làm rơi cây sắt và bạn gái Tấn nhặt cây sắt đánh ông Huyền. Sau đó, Tấn và bạn gái định bỏ đi thì ông Huyền chạy theo kéo xe máy làm bạn gái Tấn té ngã bất tỉnh. Tấn liền nhặt cây gỗ đánh ngang đầu ông Huyền làm ông này bất tỉnh tại chỗ. Theo kết quả giám định, ông Huyền bị thương tật 81% vĩnh viễn nên Tấn bị khởi tố, truy tố về tội cố ý gây thương tích. Tháng 4-2008, Tòa Phúc thẩm TAND Tối cao tại TP.HCM đã phạt Tấn 12 năm tù. Tòa tách yêu cầu cấp dưỡng của phía ông Huyền ra thành một vụ kiện khác. Tháng 9-2009, TAND quận 10 đã tuyên ông Huyền mất năng lực hành vi dân sự. Hai tháng sau, người giám hộ theo pháp luật của ông Huyền đã khởi kiện ra TAND quận Tân Bình, đòi Tấn và bạn gái liên đới bồi thường 6,2 tỉ đồng (gồm các khoản lắp vỏ não, tập vật lý trị liệu, mất thu nhập, phụ cấp nuôi mẹ, tiền thuốc, tiền ăn, tiền thuê nhà, tiền thuê người chăm sóc…). Trong khi đó, Tấn khai là không có tài sản gì, đồng thời làm văn bản từ chối quyền thừa kế di sản khi cha mẹ qua đời. Theo TAND quận Tân Bình, Tấn là người trực tiếp gây thương tích cho ông Huyền nên mới là người có trách nhiệm bồi thường. Còn bạn gái Tấn không trực tiếp gây ra thương tích nên không có trách nhiệm liên đới. Về chi phí phẫu thuật và tiền mua dụng cụ vật lý trị liệu, tòa không xét bởi phía nguyên đơn không nêu rõ từng khoản thiệt hại thực tế đã xảy ra và không có chứng từ hợp lệ. Về khoản trợ cấp nuôi mẹ, tòa cho rằng đây là tranh chấp về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm quy định tại Điều 609 BLDS nên việc nguyên đơn yêu cầu cấp dưỡng cho mẹ không thuộc trường hợp quy định tại điều luật này. Về tiền công chăm sóc, tòa tham khảo giá tại công ty dịch vụ điều dưỡng săn sóc thì chi phí chăm sóc một người mất khả năng lao động, tỉ lệ thương tật 81% vĩnh viễn như ông Huyền là 300.000 đồng/ngày. Như vậy số tiền phía nguyên đơn yêu cầu (5 triệu đồng/tháng) thấp hơn số tiền thực tế nên tòa chấp nhận. Ngoài ra, tòa không xem xét yêu cầu tính trượt giá đối với các khoản tiền phía nguyên đơn đã bỏ ra điều trị, chăm sóc...

Thứ Năm, 8 tháng 11, 2012

BÀI TẬP HNGĐ CHÍNH QUY

BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH HỆ THỐNG CÂU HỎI - BÀI TẬP ÁP DỤNG VÀ BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ Môn học: LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH A. HỆ THỐNG CÂU HỎI – BÀI TẬP ÁP DỤNG I. CÂU HỎI Trả lời/ phân tích/ làm sáng tỏ các câu hỏi sau 1. Phân tích khái niệm gia đình. Mô hình gia đình nào được Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 khuyến khích phát triển? Quan điểm cá nhân về việc bảo vệ các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam khi có nhiều thế hệ cùng sống chung? 2. Phân tích và nhận xét hiệu quả tác động của phương pháp điều chỉnh của Luật Hôn nhân và gia đình đến việc thực hiện quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình qua một số ví dụ. 3. Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc bảo vệ quyền con người? 4. Các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình với việc bảo vệ quyền con người tại cơ quan hành chính? 5. Thẩm quyền của Ủy ban nhân dân các cấp với việc bảo vệ quyền con người về hôn nhân và gia đình tại cơ quan hành chính ? 6. Trình bày cơ chế (pháp lý) đảm bảo việc thực hiện quyền kết hôn của con người. 7. Quan điểm cá nhân về thực tiễn áp dụng pháp luật nhằm bảo vệ quyền kết hôn hiện nay? 8. “Nghị quyết 02/2000/NQ ngày 23.12.2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC đậm tính nhân văn”. Qua đường lối giải quyết hôn nhân vi phạm Điều 9, Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, hãy phân tích và chứng minh nhận định trên. 9. So sánh kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng và phân tích cơ chế pháp lý bảo vệ quyền con người trong trường hợp hủy kết hôn trái pháp luật và không công nhận quan hệ vợ chồng 10. Thông qua chế định kết hôn và quan hệ pháp luật giữa vợ - chồng, hãy làm sáng tỏ nguyên tắc “hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng và vợ chồng bình đẳng” được định hướng trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000. 11. Quyền được tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ chồng được pháp luật hôn nhân và gia đình thừa nhận? Vợ khởi kiện chồng yêu cầu bồi thường thiệt hại thì tòa án có thụ lý không, cơ sở lý giải? 12. Phân tích quyền được đại diện cho nhau giữa vợ và chồng. Khẳng định sự cần thiết trong việc xác định tư cách đại diện vợ chồng - những người “đầu gối tay ấp” theo pháp luật hiện hành. 13. Thực tiễn việc thực hiện nghĩa vụ và quyền nhân thân giữa vợ và chồng. Cho ví dụ minh họa? 14. Đánh giá tính khả thi của pháp luật hiện hành trong việc bảo vệ quyền nhân thân của vợ chồng. 15. Trách nhiệm liên đới của vợ chồng đối với những giao dịch do một bên thực hiện? Ý nghĩa của cơ chế ? 16. Căn cứ và nguyên tắc xác lập tài sản chung của vợ chồng? Phân tích chế độ pháp lý về tài sản chung của vợ chồng. 17. Phân tích chế định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực, hạn chế của chế định này trong việc bảo vệ quyền con người về tài sản. 18. Căn cứ xác định và chế độ pháp lý về tài sản riêng của vợ hoặc chồng? 19. Quyền định đọat về tài sản riêng của vợ chồng? Pháp định hạn chế quyền định đọat tài sản riêng của vợ chồng tại Khỏan 5 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có trái với nguyên tắc đảm bảo quyền định đọat về tài sản của con người? Cơ sở lý giải? 20. Phân tích quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật với việc đảm bảo quyền bình đẳng về tài sản của vợ chồng hiện nay. 21. Nguyên tắc, căn cứ hình thức xác định con trong giá thú, con ngoài giá thú? 22. Quan điểm cá nhân về pháp luật thực định trong việc bảo đảm quyền được khai sinh của trẻ em? 23. Trình bày khái niệm, mục đích và ý nghĩa của việc nhận nuôi con nuôi. 24. Phân tích các điều kiện nhận nuôi con nuôi và đánh giá cơ chế cho và nhận nuôi con nuôi trong việc đảm bảo quyền được nuôi con nuôi và quyền được nhận làm con nuôi theo Luật nuôi con nuôi năm 2010. 25. Giữa cha dượng, mẹ kế với con riêng có thể phát sinh quyền và nghĩa vụ nhân thân và tài sản nào? Nêu căn cứ phát sinh các quyền và nghĩa vụ đó. 26. Phân tích nội dung cơ bản của chế định hạn chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên. Đánh giá thực tiễn sự can thiệp của các cơ quan, tổ chức trong việc bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên khi con bị cha mẹ xâm hại? 27. Nêu quan điểm cá nhân về mặt tích cực và hạn chế của chế định chế quyền cha mẹ đối với con chưa thành niên trong việc bảo vệ quyền lợi của con. 28. Hôn nhân có thể chấm dứt trong những trường hợp nào? Cho biết sự khác biệt về thời điểm và hậu quả pháp lý trong trường hợp hôn nhân chấm dứt do một bên vợ hoặc chồng chết tự nhiên với trường hợp hôn nhân chấm dứt do tòa án tuyên bố một bên vợ, chồng chết. 29. Quyền ly hôn của con người được pháp luật thừa nhận thế nào? Có thể đại diện trong ly hôn? 30. Trình bày thủ tục tố tụng giải quyết các trường hợp ly hôn nhằm bảo vệ quyền ly hôn của vợ chồng tại tòa án. 31. Việc hạn chế quyền ly hôn: Các trường hợp, điều kiện và mục đích của việc hạn chế quyền yêu cầu ly hôn ? 32. Phân tích các căn cứ cho ly hôn theo pháp luật hiện hành và cho biết quan điểm cá nhân về tính khả thi của các căn cứ cho ly hôn trong thực tiễn. 33. Trình bày đường lối giải quyết chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn. 34. Phân biệt nguyên tắc chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn với nguyên tắc chia tài sản của hai bên nam nữ khi họ không được công nhận quan hệ vợ chồng. 35. Trình bày khái niệm quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước mgòai. Phân tích nguyên tắc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngòai. II. BÀI TẬP ÁP DỤNG 1. Giải quyết tình huống Tình huống1.1 : Anh Tuấn và chị Lâm kết hôn năm 2002. Năm 2008, chị Lâm sang Thái Lan du lịch sau đó tiến hành phẩu thuật chuyển đổi giới tính và trở thành nam giới. Ngỡ ngàng trước sự đổi thay của vợ ngày trở về và mất hết hy vọng vào hôn nhân (việc chị Lâm phẩu chuyển giới tại nước ngoài anh Tuấn không biết trước), anh Tuấn đã nộp đơn yêu cầu tòa án có thẩm quyền hủy việc kết hôn trái pháp luật của anh và chị Lâm vì theo anh, anh và chị Lâm - hai bên trong quan hệ vợ chồng cùng giới tính. Theo anh, chị, cơ quan chức năng giải quyết yêu cầu của anh Tuấn thế nào, tại sao ? Tình huống 1.2: Đủ điều kiện nhưng anh Anh Đăng, sinh ngày 12.01.1970 và chị Vân, sinh ngày 03.07.1971 sống chung như vợ chồng từ năm 1992 tại phường 5, quận 6 thành phố TH mà không đăng ký kết hôn. Họ có con chung là Chi, sinh năm 1993 và có khối tài sản chung trị giá 1 tỷ đồng (do chị Vân quản lý). Đầu năm 2000, quan hệ giữa anh Đăng và chị Vân mâu thuẫn trầm trọng do anh Đăng “thầm thương trộm nhớ” chị Phượng - người láng giềng sinh ngày 10.09.1988 và có hộ khẩu thường trú cùng địa phương với anh. Tháng 12.2004, anh Đăng bàn với chị Phượng cùng đến địa phương khác sống chung. Tại UBND xã KL, huyện NĐ, tỉnh NA nơi chị Phượng đăng ký tạm trú, anh Đăng, chị Phương đã đăng ký kết hôn và họ được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 08.06.2005. Cuộc sống của anh Đăng, chị Phượng sau kết hôn hạnh phúc. Hai người có con chung là Quang, sinh ngày 04.12.2005 và cùng tạo dựng được khối tài sản chung trị giá 900 triệu đồng. Ngày 15.03.2006, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện NĐ nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện NĐ huỷ việc kết hôn của anh Đăng và chị Phượng. Hỏi, tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của Hội Liên hiệp Phụ nữ địa phương như thế nào, vì sao? Nếu anh Đăng và chị Vân, anh Đăng và chị Phượng tranh chấp tài sản và không thỏa thuận được về quyền lợi con chung thì tòa án phải giải quyết các vấn đề này ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật ? Tình huống 1.3: Tháng 11 năm 1954, ông Thăng kết hôn hợp pháp với bà Linh tại tỉnh Nam Định. Hai người không có tài sản chung và con chung. Tháng 2 năm1955, ông Thăng chuyển vào TPHCM rồi cưới và sống cùng bà Lan. Do bà Lan không có khả năng sinh con và được sự đồng ý của bà, năm 1979, ông Thăng đưa bà Ngọt về sống chung như vợ chồng và có với bà Ngọt hai con chung là Thuận và Hòa. Ông Thăng, bà Lan và bà Ngọt cùng chung sống tại căn nhà số 18A đường H, quận 5, TPHCM. Nhà này do ông Thăng đứng tên, được xây dựng năm 1961 trị giá 4 tỷ đồng. Năm 2007, ông Thăng mất không để lại di chúc. Hỏi: 1.1. Ai là vợ ông Thăng theo pháp luật hiện hành? 1.2. Xác định di sản thừa kế của ông Thăng và cho biết đối tượng được hưởng di sản thừa kế của ông theo tình huống trên. Tình huống 1.4: Ông Bỉnh hỏi, cưới bà Nhị về làm vợ năm 1980. Năm 1981, mẹ đẻ ông Bỉnh lập hợp đồng tặng cho ông Bỉnh, bà Nhị 240 m2 đất tại xã X, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Năm 1984, Bà Nhị làm thủ tục kê khai và đứng tên chủ sở hữu toàn bộ diện tích đất này. Do bà Nhị không có khả năng sinh con nên năm 1983, ông Bỉnh và bà Nhị nhận chị Chà làm con nuôi (Việc nhận con nuôi này là hợp pháp). Năm 1984, ông Bỉnh đến địa phương khác chung sống với bà Ly như vợ chồng và có với bà Ly một trai là Ngọc. Trong thời gian sống cùng bà Ly, hàng tháng ông Bỉnh vẫn “đi về’ với bà Nhị. Tháng 2.1995, bà Nhị mất. Ông Bỉnh và bà Ly sử dụng một tỷ đồng - số tiền chung mà hai người dành dụm để xây nhà ở trên 240m2 đất tại xã X, phần diện tích đất mà bà Nhị đang đứng tên chủ sở hữu. Tháng 4. 2003, ông Bỉnh đột tử không để lại di chúc. Chị Chà cho rằng nhà, đất mà bà Ly đang quản lý là di sản thừa kế của cha mẹ nuôi nên chị yêu cầu phân chia (trừ phần quyền sử dụng đất, trị giá nhà thời điểm hiện tại là 2 tỷ đồng). Bà Ly phản đối. Chị Chà khởi kiện yêu cầu tòa án bảo vệ quyền lợi. Hỏi: 1. Tòa án có thẩm quyền xác định tính chất quan hệ hôn nhân giữa ông Bỉnh - bà Nhị; ông Bỉnh - bà Ly như thế nào, vì sao? 2. Yêu cầu của chị Chà được giải quyết ra sao cho phù hợp với tinh thần pháp luật? (Xác định rõ phần di sản thừa kế mà ông Bỉnh để lại, đối tượng hưởng di sản của ông cũng như phần mà các đối tượng được hưởng). Tình huống 1.5: Anh Trần Thành và chị Hà Mỹ Linh kết hôn năm 2004 tại xã A, huyện B, tỉnh K. Hai năm sau, quan hệ vợ chồng họ rạn nứt do anh Thành nghi ngờ chị Linh không chung thủy (chị Linh là diễn viên một đoàn kịch nói thường đi biểu diễn xa nhà). Thấy hôn nhân khó tiếp tục duy trì, ngày 02.05.2007, chị Linh gửi đơn xin ly hôn anh Thành. TAND huyện B, tỉnh K đã thụ lý giải quyết vụ án. Tại Bản án sơ thẩm số 82/HN - ST (có hiệu lực ngày 10.08 2007), tòa phán quyết: 1. Về hôn nhân: Chị Hà Mỹ Linh được ly hôn anh Trần Thành. 2. Về tài sản chung và con chung: Cả hai bên khai không có và không yêu cầu tòa án giải quyết. Sau ly hôn, ngày 06.10.2007, chị Linh kết hôn với anh Đinh Anh Quân. Ngày 11.03..2008, chị Linh sinh con trai là Dũng. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành, hãy xác định cha của bé trai mà chị Linh sinh ra. 2. Buận luận án 2.1. Xác định quyền sở hữu tài sản NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N tổ chức đám cưới năm 1999, không có đăng ký kết hôn vì chị A chưa đến tuổi đăng ký kết hôn. Đến ngày 31-3-2003, Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nhưng không tuân thủ đúng quy định của pháp luật (thiếu chữ ký của anh N trong Giấy chứng nhận kết hôn). Quá trình chung sống của Chị A, anh N đã phát sinh mâu thuẫn. Từ tháng 8/2003, mâu thuẫn căng thẳng, chị A xin ly hôn. Anh A cũng đồng ý ly hôn. – Về con chung: Có 1 con chung là Lâm Bảo N, sinh năm: 2000. Cả hai bên đều có yêu cầu xin được nuôi con. – Về tài sản: Hai bên khai thống nhất có các tài sản gồm: 01 tủ đồng hồ, 01 tủ kiếng nhôm, 01 xe máy Dream Trung Quốc do anh N đứng tên. Theo anh N khai, ngoài những tài sản trên vợ chồng còn có 01 đôi bông 01 chỉ vàng 24K, 02 nhẫn vàng 02 chỉ 24K, 01 bộ vòng 18 chiếc, 01 dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K và 11.997m2 đất nông nghiệp do cha, mẹ vợ cho. Anh N yêu cầu chia tài sản theo pháp luật. Chị A cho rằng trước khi cưới chị đã có bộ vòng 6,5 chỉ 18K, sợi dây chuyền 2,5 chỉ vàng 18K và chiếc lắc tay 4 chỉ vàng 18K. Sau khi cưới, cha mẹ có cho thêm tiền nên chị đã đổi thành bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng và sợi dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K, chiếc lắc tay 5 chỉ vàng 18K, hiện nay 03 loại trang sức này là của riêng chị đang giữ. Còn đất nông nghiệp do chị đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đứng hộ cho cha mẹ chị chứ không phải của vợ chồng chị. Vào năm 2003, chị có thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay Ngân hàng cho mẹ anh N là bà Dương Thị Hải số tiền 15.000.000 đồng nay chị yêu cầu bà Hải và anh N phải trả 15.000.000 đồng cùng với lãi suất để chị trả nợ cho Ngân hàng. * Ông Nguyễn Văn Suông trình bày: Do gia đình ông có nhiều đất nên có nhờ N đứng tên dùm 11.997m2 đất nông nghiệp chứ không phải cho vợ chồng anh nay yêu cầu trả đất. * Bà Dương Thị Hải thừa nhận có nhờ chị A vay hộ 15.000.000 đồng nay đồng ý trả nợ. * Ngân hàng thương mại và cổ phần Đông Á trình bày: Ngày 5-9-2003 chị A ký khế ước vay 15.000.000 đồng lãi suất 1,2%/năm thời hạn 03 năm có thế chấp quyền sử dụng đất do chị A đứng tên. Nay yêu cầu thực hiện theo hợp đồng. * Tại bản án sơ thẩm số 38/HNST ngày 27-5-2004 của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn quyết định: Xử: – Về quan hệ vợ chồng: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị A với anh Lâm Thế N. Đề nghị Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Kha thu hồi giấy chứng nhận kết hôn số 62/KH. Quyển số 1/2003 ngày 31/3/2003 giữa anh Lâm Thế N với chị Nguyễn Thị A. – Về con cái: Giao cháu Lâm Bảo N cho anh Lâm Thế N nuôi dạy, chị A không phải cấp dưỡng nuôi con. Nhưng anh A phải tạo điều kiện cho chị Nguyễn Thị A đến thăm con. Khi cần thiết, các bên có thể xin thay đổi người nuôi con. – Về tài sản: Anh Lâm Thế N được chia 6.000.000 đồng (trị giá tài sản) và 8 chỉ 7 phân 5 ly vàng 18K (chị A giao cho anh A). Chị A được chia 6.000.000 đồng (anh A giao cho chị A) và 8 chỉ 7 phân 5 ly vàng 18K. Bác yêu cầu anh Lâm Thế N đòi chia diện tích 11.997m2 đất lúa 2 vụ, do chị A đứng tên quyền sử dụng đất số 01367/QSD đất. Bà Dương Thị Hải trả cho chị A số tiền là 15.000.000 đồng vốn và số lãi để chị A trả cho Ngân hàng TMCP Đông Á. – Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Lâm Thế N chịu 500.000 đồng án phí DSST. + Chị Nguyễn Thị A chịu 500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 50.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm, tổng cộng là 550.000 đồng (được khấu trừ 50.000 đồng tiền dự phí án của Đội thi hành án huyện Thoại Sơn), nên còn phải nộp 500.000 đồng tiền án phí. Ngày 1-6-2004, anh Lâm Thế N có đơn kháng cáo về tài sản chung gồm một lắc 5 chỉ vàng 18K, bộ vòng 18 chiếc 12,5 chỉ vàng 18K, một dây chuyền 9,9 chỉ vàng 18K, đôi bông 1 chỉ vàng 24K, hai chiếc nhẫn mỗi chiếc 01 chỉ vàng 24K một số vàng của con 18K mà chị A giữ. Đất nông nghiệp cha mẹ vợ đã cho vợ chồng anh yêu cầu chia. Ngày 2-6-2004 chị A kháng cáo xin được nuôi con. * Tại bản án phúc thẩm số 51/HNPT ngày 29/7/2004 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang quyết định: – Sửa một phần bản án sơ thẩm. – Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Nguyễn Thị A và anh Lâm Thế N. – Về tài sản: • Anh N được chia những tài sản sau: + 01 chiếc xe Dream Trung Quốc biển số 67H2-8353 do anh A đứng tên, 01 tủ kiếng nhôm, 01 tủ đồng hồ trị giá tổng cộng 12.000.000 đồng. + 3,5 chỉ vàng 18K (do chị A hoàn lại). + 5.997m2 đất nông nghiệp. Anh N phải có nghĩa vụ hoàn lại cho chị A số tiền chênh lệch tài sản là 6.000.000 đồng. • Chị A được chia những tài sản sau: + 6.000.000 đồng do anh N hoàn lại. + 7 chỉ vàng 18K. + 6.000m2 đất nông nghiệp. Chị A phải có nghĩa vụ hoàn lại cho anh N 3,5 chỉ vàng 18K. Kiến nghị Ủy ban nhân dân huyện Thoại Sơn thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01367/QSDĐ là cấp ngày 11-8-2003 diện tích 11.997m2 do chị Nguyễn Thị A đứng tên. Anh Lâm Thế N và chị Nguyễn Thị A có trách nhiệm liên hệ đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để kê khai đăng ký quyền sử dụng đối với phần diện tích đất được chia, cụ thể anh N 5.997m2, chị A 6.000m2. Sau khi xét xử phúc thẩm, chị A có đơn khiếu nại với lý do diện tích 11.997m2 chị được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do cha mẹ chị cho riêng không phải là tài sản chung của vợ chồng. Việc chị và anh N đứng đơn xin xác nhận ngày 3-9-2003 để bổ túc hồ sơ xin vay vốn ngân hàng cho bà Hải chứ không phải căn cứ để xác định chị đã nhập tài sản chung của vợ chồng. Tại quyết định kháng nghị số 153/2005/DS-KN ngày 27-10-2005, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đề nghị hủy phần chia tài sản, giao hồ sơ vụ án về Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm lại. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành, anh chị hãy đánh giá phán quyết của tòa án về: - Việc xác định quyền sở hữu tài sản là diện tích 11.997m2 đất do một bên đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng; - Việc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp tài sản nhằm đảm bảo quyền con người theo phán quyết của tòa án phúc thẩm. 2.2. Xác định trách nhiệm liên đới phát sinh trong thời kỳ hôn nhân NỘI DUNG VỤ ÁN Theo đơn khởi kiện ngày 07/3/2008 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Trần Thị Th trình bày: vào ngày 01/5/2006, bà Ng có vay của bà số tiền 300.000.000 đồng, lãi suất là 1,5% một tháng. Bà Ng có làm biên nhận nợ và có thế chấp 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc V. Ngày 18/12/2006, do chưa trả nợ nên bà Ng viết một giấy cam kết hẹn ngày 17/01/2007 sẽ trả hết nợ và lãi cho bà. Nhưng đến nay bà Ng không thực hiện cam kết trả nợ nên bà yêu cầu bà Ng cùng ông V liên đới trả số tiền 300.000.000đ vốn và tiền lãi tính theo quy định của pháp luật là 72.967.000đ. Bị đơn - bà Khương Hồng Ng trình bày: bà thừa nhận việc vay tiền như lời trình bày của bà Th, nhưng số tiền bà vay của bà Th là vay dùm cho em gái bà tên là Khương Hồng Hương; việc vay mượn này chồng bà là ông V không biết. Nay bà không đồng ý trả nợ như yêu cầu của bà Th. Ngoài ra, bà yêu cầu bà Th trả lại hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà bà đã thế chấp. Người có quyền lợi liên quan: ông Nguyễn Quốc V trình bày: việc vay nợ và thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giữa vợ ông là bà Ng và bà Th ông không biết nên ông không đồng ý trả nợ như yêu cầu của bà Th; ông yêu cầu bà Th phải trả lại cho ông hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông đứng tên mà bà Ng đã thế chấp cho bà Th. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DS-ST ngày 03/6/2008, Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh quyết định: - Chấp nhận yêu cầu của bà Trần Thị Th. - Buộc bà Ng, ông V phải có nghĩa vụ trả cho bà Th số tiền vốn vay là 300.000.000đ và tiền lãi là 72.967.000đ. Tổng cộng là: 372.967.000đ. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Ng và ông V hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 mang tên Nguyễn Quốc V do UBND huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, lệ và quyền kháng cáo của các đương sự. Ngày 16/6/2008, bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc V kháng cáo không đồng ý với bản án sơ thẩm nêu trên. Tại bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã quyết định: - Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Khương Hồng Ng và ông Nguyễn Quốc V. - Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 48/2008/DSST ngày 03/6/2008 của Tòa án nhân dân huyện Cao lãnh, tỉnh Đồng Tháp. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Th. - Buộc bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V có nghĩa vụ trả cho bà Trần Thị Th số tiền vốn vay là 300.000.000 đồng và 72.967.000 đồng tiền lãi. Tổng cộng là: 372.967.000 đồng. - Bà Trần Thị Th có nghĩa vụ trả cho bà Khương Hồng Ng và ông Trần Quốc V hai giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AD716199 và AD967680 do Ủy ban nhân dân huyện Cao Lãnh cấp ngày 29/11/2005 và ngày 26/10/2005 do ông Nguyễn Quốc V đứng tên. Ngoài ra, Tòa án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí, lãi suất chậm trả theo luật định. Ngày 20/10/2008, ông Nguyễn Quốc V có đơn khiếu nại với nội dung không đồng ý liên đới cùng bà Ng trả số tiền 372.967.000 đồng cho bà Th. Tại Quyết định số 445/2010/KG-DS ngày 16/6/2010, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã kháng nghị đối với bản án dân sự phúc thẩm số 434/2008/DSPT ngày 19/9/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp về phần xác định nghĩa vụ liên đới thanh tóan nợ vay của các bên đương sự . Anh, chị hãy phân tích, bình luận phán quyết của toà án cấp sơ thẩm và phúc thẩm về việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng theo nội dung vụ án nêu trên.. 2.3. Phân định quyền lợi của con khi cha mẹ ly lôn NỘI DUNG VỤ ÁN Chị Lê N Sương và anh Kha Tấn Tài quen biết nhau từ năm 1997, đến năm 2002 thì chung sống với nhau như vợ chồng và có một con chung là cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 do chị Sương nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài đã có vợ là chị Tống Thị Bé và 02 con với chị Bé. Chị Lê Thị Sương trước đó đã có chồng và có 02 con, chồng chị Sương đã chết, 02 con chị Sương hiện đang do gia đình bên chồng nuôi dưỡng, chăm sóc (do chị Sương không có nhà ở phải đi thuê không ổn định). Sau khi chị Sương sinh cháu Tín, do chị Bé vợ anh Tài phát hiện và nảy sinh mâu thuẫn nên hai người không chung sống với nhau nữa, nhưng anh Tài vẫn đi lại thăm nuôi cháu Tín. Ngày 17-3-2006 anh Tài đưa cháu Tín đi khám bệnh rồi đưa đi nuôi dưỡng ở nơi khác, không đưa cháu Tín về cho chị Sương. Ngày 10-4-2006 chị Lê Thị Sương có đơn khởi kiện tại Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Kha Lê Trọng Tín và yêu cầu Toà án buộc anh Kha Tấn Tài phải giao cháu Tín cho chị nuôi dưỡng. Anh Kha Tấn Tài không đồng ý với yêu cầu của chị Sương với lý do cháu Tín là con chung của anh và chị Sương, do chị Sương hiện tại không có nhà ở, phải đi thuê nhà ở nên không có điều kiện chăm sóc con. Mặt khác do anh là con trai trưởng, có vợ nhưng chỉ sinh con gái, theo phong tục người Hoa nên anh cần có con trai, chính vì vậy mà chị Sương gây nhiều áp lực với anh, mặc dù anh đã cung cấp chu đáo để chị Sương nuôi cháu Tín, chị Sương đe dọa trả thù anh và trút giận lên cháu Tín. Hiện tại chị Sương không có điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tín nên anh đề nghị được nuôi cháu Tín. Tại bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006, Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 92; Điều 94 Luật Hôn nhân và gia đình, quyết định: Chấp nhận yêu cầu của chị Lê N Sương về việc nuôi con; bác yêu cầu của anh Kha Tấn Tài về việc yêu cầu nuôi con; chị Lê N Sương nuôi con Kha Lê Trọng Tín sinh ngày 23-01-2003 cho đến khi trưởng thành; chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng; anh Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản; anh Tài có trách nhiệm giao cháu Tín cho chị Sương nuôi dưỡng; tạm giao cháu Tín cho anh Tài quản lý cho đến khi án có hiệu lực. Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật. Ngày 11-9-2006 anh Kha Tấn Tài có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Tại bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm số 04/2007/HNGĐ-PT ngày 22-01-2007, Toà án nhân dân tỉnh Đồng Tháp không chấp nhận kháng cáo của anh Kha Tấn Tài, giữ nguyên bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm như sau: Giao cho chị Lê N Sương được nuôi con là Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho đến khi trưởng thành. Chị Sương không yêu cầu anh Tài cấp dưỡng nuôi con. Anh Kha Tấn Tài được quyền thăm nom, chăm sóc con, không ai được ngăn cản. Anh Kha Tấn Tài có trách nhiệm giao cháu Kha Lê Trọng Tín, sinh ngày 23-01-2003 cho chị Lê N Sương nuôi dưỡng. Ngoài ra, Toà án cấp phúc thẩm còn quyết định về án phí. Sau khi xét xử phúc thẩm, anh Kha Tấn Tài có đơn khiếu nại. Cơ quan Thi hành án dân sự thị xã Sa Đéc có công văn số 28/ĐN-THA ngày 25-01-2008 đề nghị Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao xem xét kháng nghị bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên. Ngày 22-8-2008, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đã ra Quyết định số 114/QĐ-KNGĐT-V5 kháng nghị đề nghị Toà dân sự Toà án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm huỷ bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 19/2006/HNGĐ-ST ngày 31-8-2006 của Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp và bản án hôn nhân gia đình phúc thẩm nêu trên, giao hồ sơ về Toà án nhân dân thị xã Sa Đéc xét xử lại sơ thẩm lại. Trên cơ sở qui định của pháp luật hiện hành và đường lối xét xử nêu trên, anh (chị) hãy phân tích, bình luận những vấn đề sau: - Việc xác định người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con và thăm nom con khi cha mẹ ly hôn; - Việc áp dụng pháp luật nội dung để phán quyết vấn đề giao con cho một bên nuôi, phán quyết về quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi cha mẹ ly hôn của tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm. (Nguồn: Lê Vĩnh Châu, Lê Thị Mận, Tuyển tập các bản án, quyết định của tòa án Việt Nam về hôn nhân và gia đình, NXB Lao động, năm 2011). B. BÀI TẬP KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ I. BÀI TẬP CÁ NHÂN BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 1 – TUẦN 3 Chủ đề: Những nguyên tắc chung trong quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình. - Mục tiêu đánh giá • Xác định được những nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân - gia đình và nội dung của các nguyên tắc này đối với việc đảm bảo quyền con người trong quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình. • So sánh các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình với các nguyên tắc cơ bản của các ngành luật nội dung khác như Luật dân sự, Luật Hình sự. • Đánh giá được vai trò, ý nghĩa của các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân - gia đình và sự tác động của các nguyên tắc này đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn - gia đình. - Cấu trúc bài tập A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc • Thế nào là nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ 1 điểm • Đặc điểm của nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ 1 điểm • Nội dung cơ bản thể hiện tính nhân quyền trong các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình ? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Phân biệt tính nhân quyền trong các nguyên tắc của Luật Hôn nhân và gia đình với tính nhân quyền trong các nguyên tắc của các ngành luật nội dung khác? 200 từ đến 300 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống Chứng minh các nguyên tắc cơ bản của Luật Hôn nhân và gia đình là cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình một cách hữu hiệu. 500 từ đến 550 từ 6 điểm Tổng cộng 10 điểm BÀI TẬP CÁ NHÂN SỐ 2 – TUẦN 7 Chủ đề: Đảm bảo quyền kết hôn của con người thông qua họat động đăng ký kết hôn - Mục tiêu đánh giá • Nắm được khái niệm đăng ký kết hôn và đánh giá được vai trò và ý nghĩa của họat động đăng ký kết hôn đối với việc bảo vệ quyền kết hôn của con người. • Nhận diện đúng qui định của Luật Hôn nhân và gia đình cùng Nghị định 158/2005 (sửa đổi bởi Nghị định 06/2012) về họat động đăng ký kết hôn nhằm đảm bảo quyền con người. - Cấu trúc bài tập A. Trả lời theo câu hỏi cấu trúc • Khái niệm đăng ký kết hôn và ý nghĩa của nghĩa của họat động đăng ký kết hôn trong việc đảm bảo o đảm quyền kết hôn của con người? 100 từ 1 điểm • Thẩm quyền, nghi thức, thủ tục đăng ký kết hôn? 200 từ đến 300 từ 2 điểm • Cá nhân thực hiện quyền kết hôn của mình thông qua hoạt động đăng ký kết hôn như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm • Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện họat động đăng ký kết hôn nhằm đảm bảo quyền kết hôn của con người như thế nào? 100 từ đến 150 từ 1 điểm B. Trả lời tự do hoặc bài tập tình huống Bà Nga và ông Hinh chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1999 tại Long an. Ông bà có con chung là Phương, sinh năm 2000. Năm 2006, do kinh tế gia đình khốn khó, bà Nga đến thành phố Hồ Chí Minh mưu sinh. Thu nhập hàng tháng, bà Nga gửi về để ông Hinh nuôi con. Tháng 5.2010, trong khi bà Nga đang bươn chải kiếm sống xa nhà thì ông Hinh hỏi cưới bà Tâm (bà Tâm đã ly hôn). Ông Hinh, bà Tâm sau đó được Ủy ban nhân dân xã Q, huyện MH nơi bà Tâm cư trú cấp Giấy chứng nhận kết hôn. Biết sự tình, bà Nga nộp đơn yêu cầu tòa án nhân dân huyện MH, Long An hủy hôn nhân giữa ông Hinh và bà Tâm với lý giải: i) Ông Hinh là người đang có vợ nên ông Hinh và bà Tâm không có quyền kết hôn; ii) Ủy ban nhân dân xã Q, huyện MH tiến hành đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho ông Hinh và bà Tâm là trái với các qui định về đăng ký và quản lý hộ tịch. Theo anh (chị), quan điểm của bà Nga đúng hay sai, tại sao? 500 từ đến 550 từ 5 điểm Tổng cộng 10 điểm II. Bài tập nhóm tháng (theo nhóm nhỏ) BÀI TẬP NHÓM SỐ 1 – TUẦN 5 Chủ đề: Tìm hiểu thực tiễn áp dụng: i) Căn cứ và nguyên tắc xác định cha, mẹ, con trong, ngòai giá thú; ii) Căn cứ cho ly hôn thông qua bản án, quyết định của tòa án. Nhận xét tính khả thi của các căn cứ đó trong thực tiễn áp dụng nhằm đảm bảo quyền của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình - Mục tiêu đánh giá • Khả năng trao đổi ý kiến, phối hợp làm việc nhóm; • Khả năng hùng biện trước đám đông; • Hiểu tinh thần pháp luật, nắm được thực tiễn áp dụng pháp luật và có khả năng tổng hợp, phân tích, đánh giá bất cập vướng mắc của thực tiễn áp dụng pháp luật. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Các bản án, quyết định, tài liệu, hồ sơ vụ, việc nhóm thu thập được; • Báo cáo của nhóm về nội dung của chủ đề cần chuẩn bị (có thể thuyết trình trước lớp nếu có thời gian và lớp ít sinh viên). - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm có sự hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 1 điểm • Nội dung báo cáo trình bày đầy đủ, logic, thuyết phục; • Hình thức báo cáo trình bày rõ ràng và sáng tạo, khả năng hùng biện thuyết phục (nếu có) 5 điểm 2 điểm BÀI TẬP NHÓM SỐ 2 – TUẦN 11 Chủ đề: Xây dựng Bản án ly hôn và quyết định công nhận thuận tình ly hôn ( Tình tiết vụ việc giả định do Giảng viên cung cấp) - Mục tiêu đánh giá • Phối hợp trong làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng nhận diện và phân biệt được các chế định pháp luật hôn nhân gia đình; • Khả năng tổng hợp và vận dụng lý luận để thực hiện nghiệp vụ thực tiễn nhằm đảm bảo quyền nhân thân và tài sản của vợ chồng, con cái và người thứ ba khi vợ chồng ly hôn. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ cho các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Bản án sơ thẩm cho ly hôn, Quyết định công nhận thuận tình ly hôn. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Nộp đúng thời gian và đầy đủ các yêu cầu của chủ đề; 1 điểm • Sản phẩm hình thành thể hiện sự đầu tư nghiêm túc, cẩn thận; 1 điểm • Tinh thần làm việc nhóm: hợp tác, hỗ trợ và trách nhiệm thực hiện công việc của các thành viên; 1 điểm • Nội dung bản án, quyết định phù hợp, lô gíc và sát với giả định; • Hình thức bản án, quyết định trình bày rõ ràng, chuẩn văn phong pháp lý. 4 điểm 3 điểm III. Bài tập lớn học kỳ (theo nhóm lớn) BÀI TẬP LỚN HỌC KỲ – TUẦN 15 Chủ đề: Thực hiện kỹ năng thực tế 1. Đọc vụ, việc thực tế, nhận diện hành vi phạm pháp luật hôn nhân gia đình và tư vấn các giải pháp pháp lý (góc độ dân sự, hành chính, hình sự) nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ pháp luật. Vụ, việc:  Một ông ba bà, ai là vợ chính thức? http://phapluattp.vn/20110812105534871p1063c1016/mot-ong-ba-ba-ai-la-vo-chinh-thuc.htm.  Không chịu lấy chồng, bị đánh dã man http://phapluattp.vn/2010092710523689p0c1015/khong-chiu-lay-chong-bi-danh-da-man.htm ;  “Bó tay” nhìn chồng cưới vợ http://nld.com.vn/2010060411095751p0c1019/bo-tay-nhin-chong-cuoi-vo.htm  Bố chồng và con dâu đi nhà nghỉ http://vnexpress.net/gl/phap-luat/2007/12/3b9fdcf3  Con trai đòi tiền công nuôi mẹ 150 triệu đồng http://www.cand.com.vn/vi-VN/khcn/2008/6/93629.cand. 2. Phân tích tính đúng hoặc sai các nhận định trên cơ sở nắm vững pháp luật nội dung (các chế định kết hôn và hủy kết hôn trái pháp luật; quan hệ pháp luật giữa vợ và chồng; quan hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con; chấm dứt hôn nhân) - Mục tiêu đánh giá • Phối hợp trong làm việc nhóm, trao đổi ý kiến; • Khả năng nhận diện và nắm và phân biệt được các chế định pháp luật hôn nhân gia đình để lý giải các nhận định nội dung liên quan; • Nhận diện các hành vi vi phạm pháp luật và đưa ra đường lối xử lý thích hợp. - Sản phẩm đánh giá • Biên bản làm việc nhóm: Ghi rõ nội dung trao đổi, thảo luận và ý kiến của các thành viên trong nhóm; • Danh mục công việc, bản phân công nhiệm vụ giữa các thành viên thực hiện chủ đề bài tập nhóm; • Bài báo cáo chủ đề. - Hướng dẫn và tiêu chí đánh giá (10 điểm) • Xác định, phân công nhiệm vụ rõ ràng cụ thể giữa các thành viên nhóm; 1 điểm • Giải quyết nhiệm vụ đúng yêu cầu; 1 điểm • Nội dung báo cáo đầy đủ, chuẩn xác, có tính sáng tạo; 6 điểm • Hình thức báo cáo trình bày rõ ràng, chuẩn văn phong pháp lý, lập luận logic. Khả năng hùng biện (nếu có). 2 điểm